|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/HS-ST
Ngày 10 - 10 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Trần và bà Nguyễn Thị Chuyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QĐHPT - HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Duy T; sinh ngày 27/11/1988; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Trần Văn T1 và bà: Lại Thị H; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc C, con: có 03 con (lớn nhất sinh năm 2010, bé nhất sinh năm 2022); tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
2. Phạm Văn T2, sinh ngày 12/3/1989; Nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: cán bộ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên, đã đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 81 – QĐ/UBKTHU ngày 04/6/2024; con ông: Phạm Văn T3 và bà: Lại Thị H1 ; Vợ: Nguyễn Thị L, con có 02 con (lớn nhất sinh năm 2013, con bé nhất sinh năm 2016); tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).
3. Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 20/11/1991; Nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn X và bà: Nguyễn Thị T5; Vợ: Trần Thị T6, con có 03 con (lớn nhất sinh năm 2012, bé nhất sinh năm 2023); tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt).
4. Trần Minh V, sinh ngày 10/05/2000; Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Trần Văn T7 và bà: Nguyễn Thị P; Vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh V (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Dương Thị B, sinh năm 1987; trú tại: Thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).
- Chị Lê Thị H2, sinh năm 1992; trú tại: Thôn E, xã V, huyện M, TP , (vắng mặt).
- Anh Phan Văn H3, sinh năm 2001, trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Anh Dương Văn L1, sinh năm 1997; trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Anh Phùng Văn T8 ( tức Phùng Văn L2), sinh năm 1995; trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Thanh H4, sinh năm 1982; trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 11/5/2024, Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1991, trú tại thôn Q, xã T, huyện T một mình đi đến quán K ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (gọi tắt là quán TMT) do Trần Duy T9 là chủ thì có anh Trần Duy T, sinh năm 1988 ở cùng địa chỉ (Là anh trai T9) được giao quản lý quán để chơi với T. Tại đây, trong lúc nói chuyện với nhau, T bảo T4 “anh em có thích chơi thì làm tỷ”, ý T rủ T4 sử dụng trái phép chất ma tuý, T4 đồng ý. T tiếp tục nói với T4 “rủ thêm anh T2 nữa nhé”, T4 hiểu ý T rủ thêm Tuyến đến cùng sử dụng ma tuý thì T4 đồng ý. T bảo với T4 ứng trước tiền cho T để đi mua ma tuý rồi sẽ chia nhau sau. Sau đó, T gọi điện thoại cho Phạm Văn T2, sinh năm 1988, trú tại: thôn Q, xã Đ, huyện T bảo đến quán TMT mục đích để sử dụng ma tuý nhưng nói với T2 để cho T mượn xe mô tô đi đón bạn gái. T2 đồng ý, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, BKS 88L1- 317.76 đến quán K. Gặp T, T2 đưa chìa khoá xe cho T đi đến thành phố V đón bạn gái là chị Lê Thị H2, sinh năm 1992, trú tại thôn E, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội đến quán chơi. Sau khi T đi khỏi, T2 cùng T4 tự ý vào phòng hát VIP3 của quán để hát karaoke. Tại đây, T4 nói với T2 về việc T rủ mua ma tuý kẹo về cùng nhau sử dụng, tiền hết bao nhiêu mai chia nhau, T2 đồng ý. Sau đó T4 sử dụng tài khoản của mình chuyển vào tài khoản của T số tiền 6.000.000đ ứng trước để T mua ma tuý về cùng sử dụng và trả tiền quán hát. Sau khi về quán, T mua được 02 viên ma tuý kẹo và 03 túi ma tuý ketamine, để toàn bộ trên mặt bàn quầy thanh toán rồi cùng bạn gái là chị H2 ngồi chơi tại đây. Lúc này, T2 đi ra khỏi phòng hát thấy trên mặt bàn có túi ma tuý, T2 nói với T “mua nhiều thế”, T nói lại “hôm nay anh em mình chơi mỗi thằng gói, chơi hết bao nhiêu thì mai chia nhau, thằng T4 ứng trước đây rồi, chơi nốt buổi hôm nay, từ sau nghỉ không chơi để làm ăn”, T2 đồng ý. Sau đó, T2 cầm túi nilon chứa ma tuý trên bàn đem vào phòng Vip3, lấy 01 viên ma tuý kẹo bẻ làm 2 phần, T2 sử dụng một phần, phần còn lại đưa cho T4 sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý kẹo, T2 thấy trên bàn có bình ga gắn khò trên đầu và 01 đĩa sứ màu trắng bên trong có 01 thẻ nhựa cứng và ống hút được quấn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000₫ được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, do muốn chế biến ma tuý Ketamine để cùng mọi người sử dụng nên T2 lấy khò lửa hơ nóng đĩa rồi lấy 01 túi nilon nhỏ chứa ma tuý Ketamine đổ ra đĩa dùng thẻ nhựa dập, trộn, kẻ thành các đường “chỉ” trên đĩa. Sau khi chế biến ma tuý xong, T2 sử dụng 01 đường bằng hình thức sử dụng ống hút hít ma tuý Ketamine trên đĩa sứ thông qua mũi đi vào cơ thể rồi đặt đĩa sứ có chứa ma tuý lên mặt bàn trong phòng hát. Cùng lúc này, bạn của T là Phùng Văn T8 (tên gọi khác là Phùng Văn L2), sinh năm 1995 cùng Phan Văn H3, sinh năm 2001 và Dương Văn L1, sinh năm 1997, đều trú tại: thôn Q, xã T đến quán TMT hát karaoke, T sắp xếp cho nhóm của L2 vào phòng hát Vip 1. Sau khi sắp xếp phòng xong, T cùng H2 đi vào phòng hát Vip 3, H2 sử dụng 01 đường ma tuý Ketamine. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Trần Minh V, sinh năm 2000, trú tại: thôn N, xã T là bạn của T, T4, T2 một mình đến quán TMT chơi, gặp T ở quầy lễ tân, T bảo T4 và T2 đang sử dụng ma tuý ở phòng V1, V cũng muốn sử dụng ma tuý nên bảo Toàn cho góp tiền sử dụng ma tuý cùng, T đồng ý. V chuyển khoản cho T số tiền 1.200.000đ rồi đi vào phòng Vip 3 sử dụng ma tuý. T đưa cho V một phần viên ma tuý kẹo, V sử dụng bằng hình thức uống cùng nước vào cơ thể, V tiếp tục sử dụng 02 đường chỉ ma tuý Ketamine. Sau đó, chị Dương Thị B, sinh năm 1987, trú tại: thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là bạn của T2) đến quán chơi và vào phòng hát Vip 3. V đến mời B sử dụng 01 đường ma tuý Ketamine, B đồng ý sử dụng. Sau đó, Đặng Trung H5, sinh năm 1991, trú tại: thôn L, xã T (bạn của T2) đến quán TMT chơi, gặp T2 ở ngoài quầy thanh toán, T2 đưa cho H5 một phần viên ma tuý kẹo, H5 cầm và sử dụng hết rồi đi vào phòng Vip 3. V, T2, T, T4, H5, B và H2 cùng nhau sử dụng ma tuý tại phòng hát V của quán. Quá trình sử dụng ma tuý, T có lấy một phần ma tuý Ketamine trên đĩa cho sang đĩa khác rồi đem sang phòng hát Vip 1 mời T8, H3 và L1 sử dụng, ba người đồng ý, mỗi người sử dụng 02 đường chỉ ma tuý ketamine. Sau khi mời nhóm của T8, H3, L1 xong, T quay về phòng Vip 3 tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Cả nhóm đang sử dụng ma tuý đến khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, kiểm tra. Thấy lực lượng Công an kiểm tra, sợ bị xử lý nên T2 cầm 02 túi nilon chứa ma tuý ketamine chưa sử dụng đến cất giấu vào ngăn tủ gỗ trong phòng ngủ quán TMT, bên cạnh phòng hát Vip3.
Cơ quan điều tra đã lập Biên bản sự việc thu giữ các vật chứng gồm:
- Tại phòng hát Vip 3:
Thu giữ tại trên mặt ghế da kê ở dệ tường bên trong chính giữa phòng 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa sứ có chất bột màu trắng được thu gom vào gói giấy, niêm phong ký hiệu M1;
01 thẻ cứng màu xanh, một mặt có in chữ chung cư môi trường xanh CT1, No. 0802 bám dính chất bột màu trắng; 01 ống hút được làm bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng, bên trong ống hút có bám dính chất bột màu trắng, niêm phong ký hiệu M2.
Thu giữ trên mặt bàn kính bên phải hướng từ cửa vào 01 bình ga màu đỏ có gắn đầu khò ga.
- Tại phòng hát Vip 1:
Thu giữ dưới sàn giữa ghế và bàn kê gần hướng cửa ra vào trong phòng Vip 1 một đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng; 01 chiếc thẻ sim điện thoại 4G đã bị bỏ đi sim điện thoại có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong ký hiệu M4.
- Tại phòng ngủ cạnh phòng hát Vip 3:
Thu giữ trong ngăn tủ phía dưới cùng bên trái theo hướng từ ngoài nhìn vào tủ của tủ gỗ (loại gỗ ép) được kê ở phòng ngủ một túi nilon màu trắng có mép vuốt màu đỏ, bên trong có: 01 túi nilon có mép vuốt màu xanh, trong có chứa các chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý; 01 túi nilon có mép vuốt màu đỏ, trong có chứa các chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong trong ký hiệu M3.
- Thu của các đối tượng:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xám, đã cũ, qua sử dụng của Đặng Trung H5, được gắn thẻ sim số: 0987.268.192
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 XS Max, màu vàng, đã cũ, qua sử dụng của Lê Thị H2, được gắn thẻ sim số: 0396.046.686
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, đã cũ, qua sử dụng của Trần Minh V, được gắn thẻ sim số: 0568.861.888
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galayxy S9+, màu xanh, đã cũ, qua sử dụng của Trần Duy T, được gắn thẻ sim số: 0971.084.568
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, đã cũ, qua sử dụng của Phùng Văn T8 (Phùng Văn L2), được gắn thẻ sim số: 0972.399.677
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, đã cũ, qua sử dụng của Phan Văn H3, được gắn thẻ sim số: 0358.383.262
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, đã cũ, qua sử dụng của Dương Văn L1, được gắn thẻ sim số: 0348.834.295
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xám, đã cũ, qua sử dụng của Nguyễn Thanh T4, được gắn thẻ sim số: 0974.159.666
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, đã cũ, qua sử dụng của Dương Thị B, được gắn thẻ sim số: 0855.942.555
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu trắng, đã cũ, qua sử dụng của Phạm Văn T2, được gắn thẻ sim số: 0967.923.929
- + 01 xe mô tô BKS: 88L1 - 569.12, nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, đen, đã cũ qua sử dụng của Phùng Văn T8.
- + 01 xe mô tô BKS: 19C1 - 256.42, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen, đã cũ qua sử dụng của Phan Văn H3.
- + 01 xe mô tô BKS: 30Z3 - 6935, nhãn hiệu Honda, Dream, màu nâu, đã cũ qua sử dụng của Trần Minh V.
- + 01 xe mô tô BKS: 88L1 - 317.76, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, màu đỏ đen, đã cũ qua sử dụng của Phạm Văn T2.
Ngày 12/5/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K1- Công an tỉnh V giám định: chất ma tuý trên các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, M4 gửi giám định có phải là chất ma tuý, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý không? Loại chất ma tuý, tiền chất gì? Khối lượng bao nhiêu?”
Ngày 16/5/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V ra các bản kết luận giám định số 1339, 1340, 1341, 1342/KL-KTHS, kết luận:
“Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 0,3276g (không phảy ba hai bảy sáu gam, không kể bao bì) là ma tuý loại Ketamine".
“Đều tìm thấy chất ma tuý Ketamine bám dính trên 01 (một) chiếc đĩa sứ, 01 (một) chiếc thẻ nhựa màu xanh và 01 (một) ông hút bằng tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ của mẫu ký hiệu M2 gửi giám định”.
“Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu M3 gửi giám định có khối lượng 1,9537g (một phảy chín năm ba bảy gam, không kể bao bì) là ma tuý, loại Ketamine".
“Đều tìm thấy chất ma tuý Ketamine bám dính trên 01 (một) chiếc đĩa sứ, 01 (một) chiếc thẻ nhựa màu đỏ của mẫu ký hiệu M4 gửi giám định”
Ngày 12/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K1- Công an tỉnh V giám định chất ma tuý trong nước tiểu của: Trần Duy T; Nguyễn Thanh T4; Đặng Trung H5; Trần Minh V; Lê Thị H2; Phạm Văn T2; Dương Thị B; Phùng Văn T8 (Phùng Văn L2); Phan Văn H3 và Dương Văn L1.
Ngày 19/5/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V ra các bản kết luận giám định số: 1365, 1366, 1367, 1368, 1369, 1370, 1371, 1372, 1373, 1374, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Trần Duy T; Nguyễn Thanh T4; Lê Thị H2; Đặng Trung H5; Dương Văn L1; Trần Minh V; Phạm Văn T2; Dương Thị B; tìm thấy chất ma tuý MDMA, Ketamine và M trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Phùng Văn L2; tìm thấy chất ma tuý Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Phan Văn H3.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu, gồm: M1 = 0,2164 gam mẫu; M2 gồm 01 chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng với đường kính 27,5cm, 01 thẻ nhựa màu xanh và 01 ống hút quấn bằng tờ tiền polime Việt Nam mệnh giá 10.000₫ được cố định bằng giấy màu vàng; M3 = 1,7487 gam mẫu; M4 gồm 01 chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng với đường kính 31cm, 01 thẻ nhựa màu đỏ cùng toàn bộ bao gói được niêm phong của từng mẫu.
Về nguồn gốc ma túy, Trần Duy T khai nhận: Khi đang trên đường đi V đón chị H2, T nhận được 6.000.000₫ do T4 chuyển qua tài khoản nên đã gọi điện thoại qua T10 đến nickname E hỏi mua 03 chỉ ma tuý Ketamine và 02 viên ma tuý Kẹo của 1 người phụ nữ, hai bên thoả thuận giá 2.100.000đ và ship đến quán K. Sau khi về quán TMT được một lúc, người phụ nữ gọi qua T10 bảo Toàn đi ra cổng lấy ma tuý, T cầm 2.100.000đ tiền mặt ra kẹp ở cửa quán, người phụ nữ vứt ma tuý cho T rồi lấy tiền.
Đối với người phụ nữ T khai nhận có tên tài khoản T10 là “Eeeee” bán ma tuý cho T, do T không biết nhân thân, lai lịch cụ thể, không có thông tin gì khác của người này, ngoài lời khai của T Cơ quan điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.
Đối với anh Trần Văn T11 là chủ quán K, nơi các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định, anh T11 đi vắng, giao cho Trần Duy T quản lý quán giúp từ tháng 4/2024 (hợp đồng bằng miệng); thời điểm các đối tượng đến quán và sử dụng ma tuý không ai thông báo hoặc xin phép anh T11. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập anh này lên làm việc nhưng chưa làm việc được nên tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.
Đối với tổng số tiền 7.200.000₫ T nhận qua tài khoản do T4 và V chuyển, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của T4 và V, trong đó có 2.000.000₫ của T4, 2.000.000₫ T4 cho T vay; 2.000.000₫ T4 cho T2 vay và 1.200.000₫ của V góp để mua ma tuý về sử dụng và trả tiền phòng hát, sử dụng đồ ăn, uống. T đã chi 2.100.000₫ trong tổng số tiền nêu trên để mua ma tuý, không thu hồi được; còn 5.100.000₫ vẫn nằm trong tài khoản của T. Do T là quản lý quán không thu tiền dịch vụ phòng hát của T4, T2, V. Quá trình điều tra T4, V không yêu cầu T phải trả lại số tiền thừa; T4 không yêu cầu Toàn và T2 phải trả số tiền T4 ứng trước cho hai người này vay mua ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý và tại phiên tòa các bị cáo không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với Lê Thị H2, quá trình điều tra xác định không biết việc T nhận tiền, mua ma tuý về cùng các đối tượng sử dụng, không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị can nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự; tuy nhiên, chị H2 sử dụng ma tuý tại phòng hát Vip 3 nên ngày 08/7/2024, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với H2.
Đối với Phùng Văn T8, Phùng Văn H6 và Dương Văn L1, quá trình điều tra xác định L2, H6, L1 là bạn của Trần Duy T, sử dụng ma tuý Ketamine tại phòng hát Vip 1 do được T đem ma tuý từ phòng hát Vip 3 sang mời, không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và không sử dụng ma tuý tại phòng hát V. Kết quả xét nghiệm, ngoài dương tính với Ketamine, L2 còn dương tính với MDMA và Methamphetamine, L1 còn dương tính với MDMA, L2 và L1 khai nhận sử dụng các loại ma tuý này trước đó, ở đâu, với ai không nhớ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra. Ngày 08/7/2024, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với L2, H6 và L1.
Đối với Dương Thị B và Đặng Trung H5, quá trình điều tra xác định đều là bạn của T2 đến quán K để chơi sau đó sử dụng ma tuý cùng nhóm T2 tại phòng hát V, không có hành vi giúp sức cho các bị can trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 08/7/2024, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với B và H5.
Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng của vụ án do Phòng K1 Công an tỉnh V hoàn trả theo kết luận giám định cho Cơ quan trưng cầu cùng toàn bộ bao gói gồm: 0,2164 gam và 1,7487 gam ma tuý mẫu; 02 chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 thẻ nhựa màu đỏ và 01 ống hút quấn bằng tờ tiền polime Việt Nam mệnh giá 10.000đ được cố định bằng giấy màu vàng. Quá trình điều tra xác định, ma tuý T mua; các đĩa sứ là tài sản của quán, các thẻ nhựa và ống hút được cuốn bằng tờ tiền là đồ vật có sẵn tại quán chưa xác định được chủ sở hữu, đều được dùng vào việc phạm tội, tờ tiền 10.000đ còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ nhà nước; ma tuý và các đồ vật, tài sản khác là vật nhà nước cấm lưu hành và đã hết giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xám, đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Trung H5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Phùng Văn T8 (Phùng Văn L2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Phan Văn H3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Dương Văn L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng của thu giữ Dương Thị B, quá trình điều tra xác định là các tài sản của H5, H2, T8, H3, L1 và B không liên quan đến vụ án. Ngày 16/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại các điện thoại cho H5, H3 và B, những người này đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì; cần tiếp tục trả lại các điện thoại cho H2, T8, L1 sau khi xét xử .
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Minh V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galayxy S9+, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Duy T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xám, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thanh T4, quá trình điều tra xác định là các tài sản của V, T, T4 sử dụng để chuyển, nhận tiền mua ma tuý, dùng vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước .
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu trắng, đã qua sử dụng của thu giữ Phạm Văn T2, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của T2 không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho T2.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS 19C1 - 256.42, màu đen, đã cũ thu giữ của Phan Văn H3, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyên Trường S, sinh năm 1997, trú tại xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ cho H3 mượn để đi lại, không liên quan đến vụ án. Ngày 16/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu, anh S đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì .
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Dream, BKS 30Z3 - 6935, màu nâu, đã cũ thu giữ của Trần Minh V, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phan Văn L3, sinh năm 1999, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, BKS 88L1 - 317.76, màu đỏ đen, đã cũ thu giữ của Phạm Văn T2, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đặng Duy L4, sinh năm 1993, trú tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 11/5/2024, anh L3 và anh L4 cho V và T2 mượn xe để đi lại, không biết việc V và T2 sử dụng xe đi đến quán K thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L3, anh L4 và 02 chiếc xe nêu trên. Ngày 16/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các xe cho chủ sở hữu, anh L3, anh L4 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 xe mô tô BKS: 88L1 - 569.12, nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, đen, đã cũ qua sử dụng của Phùng Văn T8, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của T8 không liên quan đến vụ án cần trả lại cho T8.
Tại Bản Cáo trạng số: 80/CT-VKSTĐ ngày 04/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Duy T, Phạm Văn T2, Nguyễn Thanh T4 và Trần Minh V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuy nhiên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với các bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, tại quán K do anh Trần Duy T9 làm chủ, Trần Duy T được giao quản lý có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Duy T khởi xướng, cùng Nguyễn Thanh T4, Phạm Văn T2 và Trần Minh V góp tiền mua ma tuý về cùng nhau sử dụng và mời bạn bè sử dụng. T4 ứng trước 6.000.000đ, V góp 1.200.000đ chuyển cho T để mua ma tuý, T mua được 02 viên ma tuý Kẹo (MDMA) và 03 túi nilon ma tuý Ketamine đưa cho T2 đem vào phòng hát Vip 3 sử dụng. Tại đây, T2 bẻ các viên ma tuý Kẹo, đưa cho T4, H5 mỗi người 1 phần sử dụng, trực tiếp chế biến (xào, trộn) ma tuý Ketamine cho mọi người sử dụng; T đưa ma tuý kẹo cho V sử dụng và đem một phần ma tuý Ketamine trên đĩa sang phòng hát Vip 1 cho các bạn là Phùng Văn L2 (Phùng Văn T12), Dương Văn L1 và Phan Văn H3 đang hát karaoke tại đó sử dụng; Việt mời B sử dụng ma tuý Ketamine. Các đối tượng gồm T, T2, T4, V và những người khác gồm L2, L1, H3, Lê Thị H2, Đặng Trung H5, Dương Thị B đều sử dụng ma tuý tại quán K nêu trên. Khoảng 00 giờ 30 ngày 12/5/2024, khi các đối tượng đang sử dụng ma tuý bị Cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang, T2 hoảng sợ đem 02 túi ma tuý Ketamine chưa sử dụng đến sang cất giấu ở phòng ngủ của quán cạnh phòng hát V, bị thu giữ, qua giám định xác định có khối lượng 1,9537g ma tuý, loại Ketamine.
[4] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra. Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh V; Biên bản sự việc ngày 12/5/2024 cùng vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cụ thể điều luật quy định:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên;
[5] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và việc sử dụng chất ma túy vào mục đích chữa bệnh mà còn xâm hại trật an toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người và phá hoại hạnh phúc của nhiều gia đình, làm quần chúng nhân dân bất bình và cả xã hội lên án. Do vậy, cần phải xử cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự câu kết, phân công vai trò một cách chặt chẽ, mỗi bị cáo có mức độ, hành vi khác nhau. Do đó cần đánh giá vai trò, mức độ đối với từng bị cáo để có biện pháp xử lý, đảm bảo nghiêm minh cũng như thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Trong vụ án này bị cáo Trần Duy T là người khởi xướng rủ rê bị cáo T4 và bị cáo T2 góp tiền để đưa cho bị cáo T mua ma túy để sử dụng, bị cáo T là người nhận tiền do bị cáo T4 và bị cáo V chuyển đến, trực tiếp đi mua ma túy để cho các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tại quán hát TMT do bị cáo quản lý. Bị cáo T2 có vai trò đồng phạm tích cực đồng ý góp tiền và là người trực tiếp thực hành, xào, chia ma túy cho các bị cáo sử dụng, bị cáo T4, V có vai trò đồng phạm chuyển tiền cho T để mua ma túy, sử dụng ma túy, bị cáo T4, V tham gia với vai trò đồng phạm không đáng kể. Hành vi trên của các bị cáo là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật.
[6] Xét về nhân thân: Các bị cáo trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo T2 trước khi phạm tội là cán bộ công tác trong lực lượng Công an nhân dân đóng góp nhiều thành tích và được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen, danh hiệu chiến sỹ tiên tiến và được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Quá trình điều tra bị cáo T2 giúp cơ quan điều tra trong vụ án “Cưỡng Đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà cơ quan điều tra tiến hành điều tra được mở rộng điều tra, nhanh chóng làm sáng tỏ nội dung vụ án nên được phòng K1 công an tỉnh V có công văn đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo T gia đình có công với cách mạng, bị cáo T4 là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận. Hội đồng xét xử xét thấy khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đồng thời thông qua vụ án này cũng là bài học cho mọi người tham dự phiên tòa thấy được tác hại của ma túy để có biện pháp phòng chống hiệu quả.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Không có
[8] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn T2 có nhiều thành tích xuất sắc được tặng thưởng trong quá trình công tác trong lực lượng Công an nhân dân và quá trình tạm giam bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS qui định tại điểm t, v khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo T gia đình có công với cách mạng, bị cáo T4 là lao động chính trong gia đình nên bị cáo T4, T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phạm Văn T2 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo T4 và bị cáo V có vai trò đồng phạm không đáng kể trong vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với những ai đã lầm lỗi biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.
[9] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói gồm: 0,2164 gam và 1,7487 gam ma tuý mẫu; 02 chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 thẻ nhựa màu đỏ và 01 ống hút quấn bằng giấy màu vàng.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ.
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 XS Max, màu vàng cho chị Lê Thị H2; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh cho anh Phùng Văn T8 (Phùng Văn L2); trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng cho anh Dương Văn L1.
- - Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của bị cáo Trần Minh V; Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galayxy S9+, màu xanh của bị cáo Trần Duy T và Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xám của bị cáo Nguyễn Thanh T4.
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu trắng của Phạm Văn T2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Phùng Văn T8 01 xe mô tô BKS: 88L1 - 569.12, nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, đen, đã cũ.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Duy T, Nguyễn Thanh T4, Phạm Văn T2, Trần Minh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T 07 (Bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T4 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T2 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Trần Minh V 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói gồm: 0,2164 gam và 1,7487 gam ma tuý mẫu; 02 chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 thẻ nhựa màu đỏ và 01 bình ga (mini) màu đỏ có gắn đầu khò đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước tờ tiền polime Việt Nam mệnh giá 10.000₫.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 ống hút quấn được cố định bằng giấy màu vàng.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 XS Max, màu vàng cho chị Lê Thị H2; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh cho anh Phùng Văn T8 (Phùng Văn L2); trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng cho anh Dương Văn L1.
- Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của bị cáo Trần Minh V; Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galayxy S9+, màu xanh của bị cáo Trần Duy T và Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xám của bị cáo Nguyễn Thanh T4.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu trắng của Phạm Văn T2 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho Phùng Văn T8 01 xe mô tô BKS: 88L1 - 569.12, nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, đen, đã cũ.
- (Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024).
- Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Buộc bị cáo Trần Duy T13, Nguyễn Thanh T4, Phạm Văn T2, Trần Minh V mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 10/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Duy Toàn cùng đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
