|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng Lam
Bà Bùi Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé T, sinh năm: 1991
Nơi cư trú: Số F V, khu phố E, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Huỳnh Anh T1, sinh năm: 1990
Nơi cư trú: Số F V, khu phố E, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Bé T trình bày:
Bà Lê Thị Bé T, ông Huỳnh Anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 82 ngày 29/8/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại khu phố E, phường M, thành phố P - T. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống tương đối hạnh phúc. Tuy nhiên thời điểm từ tháng 3 năm 2024 đến nay hai vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xích mích, ông T1 thường xuyên ăn nhậu không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Vợ chồng ông bà mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau và cũng không có ý định hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Nay, bà xác định đã hết tình cảm với ông T1 nên đề nghị được Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Lê Đức T2, sinh ngày 06/9/2018. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Tại đơn khởi kiện bà T yêu cầu ông Huỳnh Anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/ tháng, tuy nhiên sau đó bà thay đổi yêu cầu, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Huỳnh Anh T1 quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do và không có bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị Bé T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Anh T1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường M, TP - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn: Ngày 10/9/2024, nguyên đơn Lê Thị Bé T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
[1.3] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Huỳnh Anh T1 nhưng ông T1 đều vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về tình trạng hôn nhân: Xét cuộc hôn nhân giữa bà Lê Thị Bé T và ông Huỳnh Anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường M, TP - T, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 82 năm 2017, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bà T cho rằng hai vợ chông bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và ông T1 thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Vợ chồng ông, bà mệnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc nhau. Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T giữ yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, cuộc sống chung của bà T, ông T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xích mích. Mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông T1, bà T cũng được Ban Q, phường M xác nhận. Ông T1 biết việc bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông T1 không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà T, ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[2.2] Về con chung: Xét về yêu cầu nuôi con chung của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Huỳnh Lê Đức T2, sinh ngày 06/9/2018 từ trước đến nay sống với mẹ cháu hiện nay có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường. Mặt khác, ông Huỳnh Anh T1 không tham gia tố tụng để trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh Lê Đức T2 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Lê Thị Bé T không có yêu cầu ông Huỳnh Anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Bé T được ly hôn với ông Huỳnh Anh T1
2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Bé T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Lê Đức T2, sinh ngày 06/9/2018. Ông Huỳnh Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Lê Thị Bé T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lê Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Lê Thị Bé T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002583 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị Bé T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
