Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày: 26 – 9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Nhị Hường
  2. Bà Hoàng Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hình sự thụ lý số 68/2024/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:

Đoàn Xuân T, sinh năm 2004 tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12.

Nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cha: Đoàn Xuân V, sinh năm 1983, Mẹ: Trương Thị T1, sinh năm 1982; Bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 2009; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 30/4/2024, có hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật điện thoại di động của chị Lê Thị V1 xảy ra trên đường Quốc lộ 13 đoạn thuộc tại tổ A, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Cùng ngày 30/4/2024, Đoàn Xuân T đến Công an huyện H đầu thú và bị tạm giữ.

Đến ngày 07/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Đoàn Xuân T. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến ngày 02/7/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam thay bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Lê Thị V1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ sáng ngày 30/4/2024, Đoàn Xuân T một mình điều khiển xe mô tô kiểu dáng Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 93C1 – 395.50 đi từ nhà thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để tham gia cuộc thi vật tay. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi thi xong thì Đoàn Xuân T mặc trang phục áo khoác dài tay màu trắng – đỏ, quần dài màu vàng – nâu nhạt, đội nón bảo hiểm loại trùm nửa đầu màu trắng, đeo mắt kinh màu trắng – đen rồi điều khiển xe mô tô kiểu dáng Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 93C1 – 395.50 chạy từ thành phố Đ để về nhà.

Khi về đến khu vực Nhà thờ thị trấn T, huyện H, lúc này Đoàn Xuân T nhìn thấy chị Lê Thị V1 một mình điều khiển xe mô tô kiểu dáng Vision, màu xanh, biển kiểm soát: 93C1 – 119.64 lưu thông cùng chiều, phía trước. Khi đi đến đường Q, đoạn ngã ba vào xã T thuộc thị trấn T, huyện H, T rẽ trái đi về hướng khu phố G, thị trấn T và điều khiển xe chạy vượt qua xe mô tô của chị V1, T nhìn thấy bên hộc đựng đồ phía trước, bên trái xe mô tô của chị V1 có để 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13 Promax, bên ngoài có đeo ốp lưng màu xanh nhạt nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của chị V1 để bán lấy tiền tiêu xài. Do vậy, T điều khiển xe mô tô chạy chậm lại để cho chị V1 điều khiển xe mô tô vượt qua, chạy phía trước T. Sau đó T đi theo sau chị V1 đến đoạn đường thuộc tổ A, khu phố E, thị trấn T thì T điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái xe mô tô chị V1 đang lưu thông, khi khoảng cách giữa T và chị V1 khoảng 01m thì T nhanh chóng dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax của chị V1 đang để ở hộc đựng đồ phía bên trái, trước xe mô tô và nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về hướng khu phố G, thị trấn T rồi rẽ phải đi về hướng đập Ông, trên đường đi T đã cất chiếc điện thoại Iphone 13 Promax vào túi quần bên trái. Do bất ngờ bị T giật chiếc điện thoại di động, chị V1 nhìn thấy nhưng không kịp phản ứng gì nên đã truy hô rồi điều khiển xe mô tô đuổi theo phía sau T. Khi đi đến đoạn đường gần đập Ông thuộc khu phố G, thị trấn T thì chị V1 tự ngã xe nên không đuổi theo T nữa và đến Công an thị trấn T để trình báo sự việc.

Sau khi chạy thoát được thì Đoàn Xuân T quay về nhà thay quần áo và để áo khoác dài tay màu trắng – đỏ, quần dài màu vàng – nâu nhạt, xe mô tô kiểu dáng Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 93C1 – 395.50 ở nhà, sau đó Thảo cầm theo chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax vừa giật được của chị V1 đi đến tỉnh Bình Dương chơi. Trên đường đi, T có mở màn hình điện thoại lên xem thấy điện thoại có khóa mật khẩu màn hình nên T không mở được. Tuy nhiên, T nhìn thấy màn hình điện thoại có đặt hình nền ảnh cưới của vợ chồng chị V1, trong đó T có quen biết với người chồng của chị V1 do từng làm cùng Công ty ở phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Vì vậy, đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, Đoàn Xuân T đã đến Công an huyện H đầu thú đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động đã chiếm đoạt được của chị Lê Thị V1 và Đoàn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, có giá trị là 14.343.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Đoàn Xuân T về tội: “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 93C1 – 395.50, số khung: RLCUG1010NY360020, số máy: G3D4E1131056;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Blue, bên ngoài có gắn ốp lưng màu xanh lá, có đặt mật khẩu khóa màn hình;
  • 01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng – đỏ, bên ngoài có in chữ “S” (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) quần dài bằng vải, màu nâu – vàng nhạt (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) mắt kính bằng nhựa trong suốt, màu trắng – đen (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) nón bảo hiểm loại trùm nửa đầu, màu trắng (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) khẩu trang, mặt ngoài màu đen, mặt trong màu trắng, có in chữ “5D OMI” (đã qua sử dụng).

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng – đỏ, bên ngoài có in chữ “S” (đã qua sử dụng); 01 (một) quần dài bằng vải, màu nâu – vàng nhạt (đã qua sử dụng); 01 (một) mắt kính bằng nhựa trong suốt, màu trắng – đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm loại trùm nửa đầu, màu trắng (đã qua sử dụng) và 01 (một) khẩu trang, mặt ngoài màu đen, mặt trong màu trắng, có in chữ “5D OMI” (đã qua sử dụng): Đây là trang phục mà Đoàn Xuân T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh B, dung lượng bộ nhớ trong 256 Gb, bên trong có gắn thẻ sim số: 0964.944.045 và 01 (một) ốp lưng bằng nhựa dẻo, màu xanh lá, bên ngoài có in hình con khủng long. Đây là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị V1 bị chiếm đoạt vào ngày 30/4/2024, được bị cáo Đoàn Xuân T giao nộp khi đầu thú. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại điện thoại di động trên cho chị Lê Thị V1 theo quy định của pháp luật nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

- Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát: 93C1 – 395.50: Quá trình điều tra xác định đây là xe mô tô của ông Đoàn Xuân V, sinh năm 1983 (bố ruột của Đoàn Xuân T) đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 30/4/2024, ông V không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Sau khi được Cơ quan Công an thông báo, ông V đã tự nguyện giao nộp xe mô tô trên để phục vụ công tác điều tra. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại xe mô tô trên cho ông Đoàn Xuân V theo quy định của pháp luật nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra gia đình Đoàn Xuân T đã tự nguyện bồi thường cho chị Lê Thị V1 số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và do chị V1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Đoàn Xuân T phạm tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đoàn Xuân T mức án từ 24 tháng đến 28 tháng tù.

Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng vụ án như bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 15/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại có đơn xin vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố bị hại đã có lời khai; lời khai của bị hại phù hợp với lời khai bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và nhận tiền bồi thường, khắc phục hậu quả của bị cáo và không yêu cầu gì thêm nên việc vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị hại, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố các bản khai tại phiên tòa.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Xuân T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận định giá tài sản và vật chứng thu giữ được trong vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận như sau: Khoảng 15 giờ ngày 30/4/2024, Đoàn Xuân T một mình điều khiển xe mô tô kiểu dáng Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 93C1 – 395.50, chạy từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để đi về nhà tại khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Khi đi đến khu vực Nhà thờ thị trấn T, huyện H thì nhìn thấy chị Lê Thị V1 một mình điều khiển xe mô tô kiểu dáng Vision, màu xanh, biển kiểm soát: 93C1 – 119.64 lưu thông cùng chiều, phía trước. Khi đi đến đường Q, đoạn đường vào ngã ba xã T thuộc thị trấn T, huyện H thì T điều khiển xe mô tô chạy vượt lên xe mô tô của chị V1 và nhìn thấy bên hộc đựng đồ phía trước, bên trái xe của chị V1 có để 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, bên ngoài có đeo ốp lưng màu xanh nhạt nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của chị V1 để bán lấy tiền tiêu xài. Do vậy, T điều khiển xe mô tô đi chậm lại để cho chị V1 điều khiển xe mô tô vượt qua. Sau đó T đi theo sau chị V1 đến đoạn đường thuộc tổ A, khu phố E, thị trấn T thì T điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái xe mô tô chị V1 đang lưu thông rồi T nhanh chóng dùng tay lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax của chị V1 đang để ở hộc đựng đồ phía bên trái, trước xe mô tô và nhanh chóng tăng ga bỏ chạy. Đến 20 giờ 30 phút, ngày 30/4/2024 Đoàn Xuân T đã đến Công an huyện H đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại di động mà T đã cướp giật được của chị Lê Thị V1. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến hoạt động tư pháp, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến trật tự địa phương, gây phản ứng bất bình trong nhân dân nơi có vụ án xảy ra, hành vi của bị cáo còn có nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của bị hại nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là dùng thủ đoạn nguy hiểm theo quy định điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự;

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo ra Cơ quan có thẩm quyền đầu thú và nộp tài sản bị chiếm đoạt nên bị cáo được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy vị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng và áp dụng hình phạt ở khung hình phạt liền kề nhẹ hơn cũng đủ tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại; bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì nên không tiếp tục xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 áo khoác dài tay, màu trắng – đỏ, bên ngoài có in chữ “S” (đã qua sử dụng); 01 quần dài bằng vải, màu nâu – vàng nhạt (đã qua sử dụng); 01 mắt kính bằng nhựa trong suốt, màu trắng – đen (đã qua sử dụng); 01 nón bảo hiểm loại trùm nửa đầu, màu trắng (đã qua sử dụng) và 01 khẩu trang, mặt ngoài màu đen, mặt trong màu trắng, có in chữ “5D OMI” (đã qua sử dụng). Đây là trang phục mà Đoàn Xuân T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với các vật chứng khác quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo Đoàn Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Xuân T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đoàn Xuân T mức án 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến ngày 02/7/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy:

01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng – đỏ, bên ngoài có in chữ “S” (đã qua sử dụng); 01 (một) quần dài bằng vải, màu nâu – vàng nhạt (đã qua sử dụng); 01 (một) mắt kính bằng nhựa trong suốt, màu trắng – đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm loại trùm nửa đầu, màu trắng (đã qua sử dụng) và 01 (một) khẩu trang, mặt ngoài màu đen, mặt trong màu trắng, có in chữ “5D OMI” (đã qua sử dụng).

Các vật chứng khác quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.

(Vật chứng đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0006020 ngày 18/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự và Thi hành án hình sự huyện Hớn Quản).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đoàn Xuân T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu: TA, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cướp giật tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger