|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HS - ST Ngày: 19-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Linh
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức, bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Phạm Văn K, sinh năm 1994 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: KDC K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn K1 và con bà Nguyễn Thị L; Có vợ Quách Thị N; bị cáo có 01 con, sinh năm 2024.
Tiền án: Bản án số 28/2016/HSST ngày 26/4/2016 của TAND thị xã Chí Linh(nay là TAND thành phố Chí Linh) tuyên phạt Phạm Văn K 07 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 24/4/2021, K chấp hành xong hình phạt tù, ngày 11/7/2016 chấp hành xong phần án phí và tiền phạt.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146 ngày 25/6/2012 của Công an thành phố C đối với Phạm Văn K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/8/2012, K chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024, đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2004 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: KDC N, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và con bà Đỗ Thị Q; Gia đình bị cáo có một mình bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024, đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Danh N1, sinh năm 2001 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và con bà Giáp Thị H; Gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024, đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 07/6/2007 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và con bà Trần Thị H2; Gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024, đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa
- * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1: Bà Nguyễn Thị C1 Trợ pháp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1971 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1981. Đều có địa chỉ tại: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đều có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng
- Ông Bùi Bá L2, sinh năm: 1974. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm: 2006. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 23/3/2024, Nguyễn Hoàng A gọi điện thoại rủ Phạm Văn K lên quảng trường Hồ Mật S uống nước, K đồng ý. Sau đó Nguyễn Hoàng A cùng Nguyễn Văn H3, sinh năm: 2006, HKTT: khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương đi ra quảng trường Hồ Mật S, thì gặp Kết cả ba ngồi uống nước cùng nhau. Một lúc sau Hoàng A bảo H3 đến quán K2 đón Nguyễn Thị Khánh L1 ra uống nước cùng. Khoảng 05 phút sau, H3 cùng L1 về chỗ Hoàng A và K cùng ngồi uống nước. Trong lúc ngồi uống nước, K rủ mọi người góp tiền mua ma túy về phòng trọ của Hoàng A để sử dụng thì Hoàng A trả lời “em không chơi”, còn L1 nói “để tỷ về xem đã vì em hôm nay hơi say”. Sau đó H3 chở L1 về phòng trọ của Hoàng A ở khu dân cư L, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (H thuê của ông Bùi Bá L2, sinh năm: 1974, HKTT: khu dân cư T, phường C, thành phố C). Hoàng A và K ngồi lại khoảng 10 phút sau thì cùng nhau đi về phòng trọ của Hoàng A. Khi về đến phòng trọ thấy L1 đang nằm trong phòng, còn H3 đang lấy quần áo đi tắm nên Hoàng A và K vào phòng nằm chơi cùng L1. Hoàng A nhắn tin bằng điện thoại rủ Nguyễn Danh N1 vào phòng trọ của mình để góp tiền mua ma túy, N1 đồng ý. Khoảng 15 phút sau N1 đến nhà trọ của Hoàng A. Khi đến N1 đưa cho Hoàng A 250.000đồng, Hoàng A cầm tiền để ở giữa chỗ Hoàng A và K nằm. Thấy vậy L1 có góp số tiền 150.000đồng để cùng mua ma túy nhưng K thấy chưa đủ nên nói L1 bỏ thêm 200.000đồng nữa, L1 đồng ý. Sau đó L1 cầm số tiền 250.000đồng của N1 rồi dùng điện thoại chuyển khoản cho K số tiền 600.000đồng để K đi mua ma túy về sử dụng (H3 đang tắm không biết việc mọi người bàn nhau mua ma tuý về sử dụng). Nhận được tiền, Kết bảo Hoàng Anh đi đón Trương Trọng Q1, sinh năm: 1999, HKTT: khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương lên để cùng sử dụng ma túy. Trước đó, Kết có gửi Q1 chiếc tất trong có 01 bộ đồ sử dụng ma tuý và 01 túi ma tuý Kết mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch ở thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Kết không nói cho Q1 biết bên trong chiếc tất có gì). Sau đó Hoàng A điều khiển xe máy BKS: 34S1-132.97 (của chị Đỗ Thị Q, sinh năm: 1981, HKTT: KDC N, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương) đi đón Q1. Khi gặp Q1 đưa cho Hoàng A một chiếc tất (cầm vào tất Hoàng A biết bên trong tất có chứa cóong thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá), sau đó Hoàng A đút vào túi áo khoác bên trái đang mặc, rồi hỏi Q1 “anh không xuống à”, Q1 trả lời “không cứ về đi”, nên Hoàng A đi về. Đến phòng trọ Hoàng A để chiếc tất lên chăn gần chỗ K và N1 đang nằm, rồi đi ra ngoài sân ngồi. Thấy cóong hở ra thì N1 lấy chai nước gần đó, bỏ bộ đồ ra lắp lại đồng thời lấy túi ma túy có trong tất đổ hết vào cóong rồi sử dụng, sau đó đến K và L1 thay nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/3/2024, Công an thành phố C đến kiểm tra phát hiện và thu giữ: tại vị trí nền nhà 01 chai nước không nhãn mác, chiều cao 21 cm, đường kính mặt đáy 06cm, phần lắp màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút màu cam, chiều dài 16cm, một lỗ được cắm cóong thủy tinh màu trắng chiều dài 08cm, phần bầu cóong bám dính chất rắn màu đen và trắng là ma túy; 01 quyển vở kích thước (20x29)cm bên ngoài có ghi chữ “Giáo án” bên trong kẹp 01 túi nilong màu trắng, kích thước (1,8x1,8)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy (là ma tuý của Hoàng A để mọi người cùng sử dụng chung); 01 đoạn ống nhựa màu cam, chiều dài 16cm; 01 bật lửa ga màu xanh, không nhãn mác. Tạm giữ: 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone Xs Max, màu trắng có lắp sim số: 0901017642 của Nguyễn Hoàng A; 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone 7 Plus, màu đen, có lắp sim số 0965463710 của Nguyễn Thị Khánh L1; 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone 6, màu bạc có lắp sim số: 0964321875 của Nguyễn Danh N1; 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone 11, màu đỏ, có lắp sim số: 0386414568 của Phạm Văn K; 01 xe máy nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, màu sơn: Xanh-Đen, BKS: 34S1-132.97 của Nguyễn Hoàng A. Tại Bản kết luận giám định số: 195/KL - KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh H kết luận:
- Chất rắn (dạng tinh thể màu trắng trong túi ni lon màu trắng được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định khối lượng là 0,089gam là ma túy, loại Methamphetamine.
- Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất rắn màu đen và trắng bám dính bên trong bầu coong thủy tinh, được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKS-KT ngày 12/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Phạm Văn K đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b,c, h khoản 2 Điều 255 của BLHS; Truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS;Truy tố bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS.
Tại phiên toà:
Bị cáo K, bị cáo Hoàng A, bị cáo N1 không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo L1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo L1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L1, đề nghị xử phạt bị cáo L1 từ 4 năm 6 tháng đến 4 năm 8 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án:
Căn cứ các điểm b, c, h khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; Điều 17 BLHS đối với bị cáo Phạm Văn K.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; Điều 17 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101; Điều 90; Điều 91 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1.
Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1, Nguyễn Thị Khánh L1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Xử phạt Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 9 năm đến 9 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh N1 7 năm đến 9 tháng đến 8 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chai nước không nhãn mác, chiều cao 21 cm, đường kính mặt đáy 06cm, phần lắp màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút màu cam, chiều dài 16cm, một lỗ được cắm cóong thủy tinh màu trắng chiều dài 08cm, phần bầu cóong bám dính chất rắn màu đen và trắng là ma túy; 01 quyển vở kích thước (20x29)cm bên ngoài có ghi chữ “Giáo án” bên trong kẹp 01 túi nilong màu trắng, kích thước (1,8x1,8)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu cam, chiều dài 16cm; 01 bật lửa ga màu xanh, không nhãn mác đã qua sử dụng. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone Xs Max, màu trắng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone 7 Plus, màu đen; 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone 6, màu bạc; 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone 11, màu đỏ. Tịch thu tiêu hủy số thuê bao: 0965463710; 0901017642; 09643218751; 0386414568. Truy thu bị cáo Phạm Văn K số tiền 600.000đồng sung quỹ Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo Phạm Văn K, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1 tại phiên tòa đều không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của bị cáo L1, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 24/3/2024, tại phòng trọ của Nguyễn Hoàng A ở khu dân cư L, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Phạm Văn K khởi xướng, chuẩn bị công cụ và mua ma tuý; Nguyễn Hoàng A sử dụng chỗ ở thuộc quản lý của mình và đi lấy dụng cụ sử dụng ma túy và góp chung 01 gói ma túy, Nguyễn Danh N1 và Nguyễn Thị Khánh L1 cùng góp tiền mua ma túy để Phạm Văn K, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1 và Nguyễn Thị Khánh L1 cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Đến khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng vừa sử dụng xong ma túy thì bị lực lượng Công an thành phố C kiểm tra phát hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn K đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 của BLHS; Truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của BLHS; Truy tố bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua ma túy về tổ chức cùng nhau sử dụng trái phép ma túy.
Trong vụ án, các bị cáo đồng phạm với nhau, bị cáo K không thừa nhận là người rủ rê, khởi xướng, chỉ thừa nhận việc chuẩn bị ma túy và công cụ sử dụng ma túy. Tuy nhiên, bị cáo không có tài liệu nào khác cung cấp xác định lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa là đúng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo người khởi xướng, chuẩn bị công cụ và mua ma tuý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò chính. Bị cáo Nguyễn Hoàng A không thừa nhận việc biết các bị cáo K, N1, L1 sử dụng ma túy tại chỗ ở thuộc quản lý của mình, không thừa nhận việc gọi điện rủ bị cáo N1 đến nơi ở của bị cáo để sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo đã góp 1 gói ma túy và là người trực tiếp đi lấy dụng cụ sử dụng ma túy để K, N1, L1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình nên giữ vai trò thứ hai. Bị cáo N1 góp số tiền 250.000đồng mua ma túy, trực tiếp đổ ma túy vào coong cho bị cáo K, L1 sử dụng nên giữ vai trò thứ ba. Bị cáo L1 góp số tiền 350.000đồng để mua ma túy về sử dụng chung nên giữ vai trò thứ tư.
Vì vậy, khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tính chất hành vi của từng bị cáo như sau: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo K, Hoàng A, N1 đều không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, gây khó khăn trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa nên các bị cáo đều không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo L1 thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo K có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý. Bị cáo K, bị cáo Hoàng A, bị cáo N1 đều rủ rê bị cáo L1 là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo K phải chịu tình tiết định khung tại các điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 BLHS, bị cáo Hoàng A, bị cáo N1 phải chịu tình tiết định khung tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS. Bị cáo Hoàng A, N1, L1 đều có nhân thân tốt. Bị cáo L1 thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi 17 tuổi 9 tháng 12 ngày nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt cao nhất không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Thêm nữa, bị cáo L1 có hoàn cảnh gia đình bố mẹ ly hôn, bị cáo cũng đã nghỉ học từ lâu, nhận thức pháp luật bị hạn chế, bị rủ rê, lôi kéo vào việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ phần hình phạt đối với bị cáo so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Bị cáo K, bị cáo Hoàng A, bị cáo N1, bị cáo L1 đều không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động mà lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện các bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng: 01 chai nước không nhãn mác, chiều cao 21 cm, đường kính mặt đáy 06cm, phần lắp màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút màu cam, chiều dài 16cm, một lỗ được cắm cóong thủy tinh màu trắng chiều dài 08cm, phần bầu cóong bám dính chất rắn màu đen và trắng là ma túy; 01 quyển vở kích thước (20x29)cm bên ngoài có ghi chữ “Giáo án” bên trong kẹp 01 túi nilong màu trắng, kích thước (1,8x1,8)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu cam, chiều dài 16cm; 01 bật lửa ga màu xanh, không nhãn mác đã qua sử dụng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được nên bị tịch thu và tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone Xs Max, màu trắng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone 7 Plus, màu đen; 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone 6, màu bạc; 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone 11, màu đỏ để xử lý theo quy định của pháp luật là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với các sim điện thoại có số thuê bao: 0901017642; 0965463710; 0964321875; 0386414568 mà các bị cáo dùng vào việc vi phạm pháp luật, cần tịch thu tiêu hủy sim điện thoại di động và kiến nghị tổng công ty V và tổng công ty V1 thu hồi số thuê bao di động này là phù hợp với điểm d khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.
Đối với số thuê bao 0901017642; 0964321875; 0386414568 hiện còn 0 đồng, số thuê bao 0965463710 hiện còn 54đồng, số tiền dưới 1000đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 600.000đồng, N1 và L1 góp tiền đưa cho K để đi mua ma túy về sử dụng. Kết chưa đi mua ma túy. Đây là số tiền do phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
[6] Trong vụ án, đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Văn K không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ xử lý.
Khi gửi gói đồ bên trong chứa coong thủy tinh cùng túi ma túy cho Trương Trọng Q1, K không nói Q1 biết. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Q1 lên làm việc nhưng Q1 không có nhà nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tách ra làm rõ, xử lý sau.
Đối với túi ma túy lực lượng Công an đã thu giữ là của Hoàng A với mục đích để góp vào cùng K, N1, L1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí L3 không đặt ra việc xử lý đối với Hoàng A về hành vi tàng trữ ma túy.
Đối với anh Bùi Bá L2 cho Nguyễn Hoàng A thuê trọ nhưng không biết Hoàng A dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đặt ra việc xử lý.
Đối với Nguyễn Văn H3 là người ở cùng phòng trọ với Hoàng A và chở L3 về phòng trọ không biết việc: Hoàng A, K, N1, L3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng trọ của Hoàng A nên không đặt ra xử lý.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn K, Nguyễn Danh N1 và Nguyễn Thị Khánh L1, Công an Thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo K, Hoàng A, N1, L1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các điểm b, c, h khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; Điều 17 của BLHS đối với bị cáo Phạm Văn K.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; Điều 17 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101; Điều 90; Điều 91 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1.
Áp dụng các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1, Nguyễn Thị Khánh L1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Xử phạt Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 9 năm 5 tháng( chín năm lăm tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 8 năm 4 tháng(tám năm bốn tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh N1 8 năm 2 tháng(tám năm hai tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Khánh L1 4 năm 8 tháng(bốn năm tám tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 195/KL-KTHS, cơ quan CSĐT- C2, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 324 ngày 24/3/2024, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K3 Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa: 01 cosoong thủy tinh, 0,049gam ma túy Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 quyển vở kích thước (20x29)cm bên ngoài có ghi chữ “Giáo án”; 01 đoạn ống nhựa màu cam, chiều dài 16cm; 01 bật lửa ga màu xanh, không nhãn; 01 vỏ chai nhựa không nhãn mác, chiều dài 21cm, đường kính đáy 6cm, nắp chai màu trắng đục hai lỗ;
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động, kiểu dáng iPhone Xs Max, màu trắng, số IMEI 1: 357276097073543, số IMEI 2: 357276097055706, màn hình bị rạn nứt, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 Plus, màu đen, số IMIE 353809087041049, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6, màu bạc, số IMEI 353028091275002, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11, màu đỏ, số IMEI 1: 356862115631965, số IMIE 2: 356862115659701, máy đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy sim có số seri 8401210750142821; sim có số seri 8984048000920810725; sim có số seri 8401230712536567; sim có số seri 8984048000333618263.
(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 13/8/2024).
Truy thu số tiền 600.000đồng của bị cáo Phạm Văn K sung quỹ Nhà nước.
Kiến nghị tổng công ty V và tổng công ty V1 thu hồi số thuê bao di động: 0901017642; 0965463710; 0964321875; 0386414568
3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn K, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Danh N1, Nguyễn Thị Khánh L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo L1, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo L1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thu Hương |
11
Bản án số 86/2024/HS - ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 86/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kết và đồng bọn phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
