|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 9 năm 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Ngọc Tân;
- Bà Phạm Thị Hương.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXX-ST ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chương Thị Thùy D, sinh năm 1986
Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1987
Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Chị D, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Chương Thị Thùy D có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 13/01/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Đ đến năm 2012 thì chuyển lên sinh sống tại xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái, chị D làm nghề giáo viên mầm non, anh C làm lao động tự do. Cuộc sống hạnh phúc, hòa thuận đến tháng 9/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống; anh C đã về nhà bố mẹ đẻ ở xã Đ, huyện Q sinh sống từ tháng 9/2023, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị D và anh C có 02 con chung là Phạm Thị Bích D1, sinh ngày 15/12/2009 và Phạm Gia H, sinh ngày 24/02/2016 hiện 02 con chung đang ở cùng chị D. Ly hôn chị D đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị D không có thai nghén gì. Chị D đang làm giáo viên mầm non xã M, huyện V, thu nhập 1 tháng là 13.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai, đơn xin xét xử vắng mặt anh Phạm Văn C trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị D về thời gian hoàn cảnh kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Đ một thời gian sau đó chuyển lên sinh sống tại xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nay chị D có đơn xin ly hôn thì anh C đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu chị D kiên quyết xin ly hôn thì anh C nhất trí ly hôn với chị D. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Bích D1, sinh ngày 15/12/2009 và Phạm Gia H, sinh ngày 24/02/2016 hiện 02 con chung đang ở cùng chị D. Ly hôn anh C đề nghị giao 02 con chung cho chị D nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại đơn đề nghị cháu Phạm Thị Bích D1 trình bày: Cháu Phạm Thị Bích D1, sinh ngày 15/12/2009 là con đẻ của chị Chương Thị Thùy D và anh Phạm Văn C. Trước tháng 7/2024 đã chuyển lên xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái học và ở cùng chị D, cháu D1 học lớp 9. Nếu chị D, anh C ly hôn thì cháu D1 có nguyện vọng ở cùng chị Chương Thị Thùy D.
- Tại đơn đề nghị cháu Phạm Gia H trình bày: Cháu Phạm Gia H, sinh ngày 24/02/2016 là con đẻ của chị Chương Thị Thùy D và anh Phạm Văn C. Hiện cháu H đang học lớp 2 trường tiểu học xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nếu chị D, anh C ly hôn thì cháu H có nguyện vọng ở cùng chị Chương Thị Thùy D.
- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn B, cán bộ tư pháp xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Chương Thị Thùy D và anh Phạm Văn C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 13/01/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Đ và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cơ sở không nắm rõ. Hiện nay chị D và anh C đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị D có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị D và anh C có 02 con chung, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Cở sở không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Chương Thị Thùy D và anh Phạm Văn C là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Đ, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị D, anh C như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị D, anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 13/01/2009 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09/2023 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị D đề nghị ly hôn nhưng anh C cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D, anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, xử cho chị được ly hôn anh C là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ con chung: Chị Chương Thị Thùy D và anh Phạm Văn C có 02 con chung là Phạm Thị Bích D1, sinh ngày 15/12/2009; Phạm Gia H, sinh ngày 24/02/2016. Ly hôn Chị D, anh C đều đề nghị giao 02 con chung cho chị D nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu D1, cháu H cũng có nguyện vọng được ở cùng chị D. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị D là chính đáng, chị D có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Chương Thị Thùy D trực tiếp nuôi 02 con chung Phạm Thị Bích D1 và Phạm Gia H; anh Phạm Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị D, anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chương Thị Thùy D, anh Phạm Văn C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Chương Thị Thùy D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Chương Thị Thùy D được ly hôn anh Phạm Văn C.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Chương Thị Thùy D trực tiếp nuôi 02 con chung Phạm Thị Bích D1, sinh ngày 15/12/2009 và Phạm Gia H, sinh ngày 24/02/2016; anh Phạm Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Chương Thị Thùy D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp theo Biên lai thu số 0004790 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Chương Thị Thùy D, anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị D và anh C
