|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 86/2024/HS-ST
Ngày: 04/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tư
Ông Nguyễn Viết Xứng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đình T, sinh năm 1976, tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên Đ1 (Sinh hoạt tại Chi bộ 6, Đảng bộ Nông trường Cao su N); con ông Vũ Đình T1, sinh năm 1944 (Đã chết) và bà Lê Thị V, sinh năm 1950; có vợ tên Tăng Thị T2, sinh năm 1981 và có 2 con (Con lớn sinh năm 2005; con nhỏ sinh năm 2007); Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 11/01/2024 cho đến nay.
* Những người tham gia tố tụng:
- Bị hại: Cao Thị Cẩm L, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Đình Đ, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 4/2022, bà Cao Thị Cẩm L đến nhà ông Trần Đình Đ chơi và kể cho Đ nghe việc Nguyễn Hòa T3 (con trai bà L) bị Công an thành phố Đ bắt tạm giam thì ông Đ nói có quen biết với Vũ Đình T là người có nhiều mối quan hệ trong xã hội có thể giúp cho bà L. Sau đó, ông Đ gọi điện thoại cho T đến nhà mình để gặp bà L. Tại đây, ông Đ để cho T và bà L tự trao đổi. Sau khi nghe bà L kể lại vụ việc thì T nói dối với bà L về việc có quen biết và mối quan hệ rộng trong xã hội nên có thể xin cho T3 được tại ngoại và nói bà L đưa trước cho T số tiền 20.000.000 đồng để T lấy chi phí đi xin cho T3 tại ngoại thì bà L đồng ý và đưa cho T 20.000.000 đồng. Đến tháng 5/2022 (không rõ ngày), T đến nhà bà L nói bà L đưa thêm cho T số tiền 100.000.000 đồng để lo cho T3 được tại ngoại thì bà L đưa số tiền 100.000.000 đồng cho T. Đến khoảng tháng 6/2022 (không rõ ngày), T tiếp tục yêu cầu bà L đưa thêm cho T số tiền 60.000.000 đồng thì bà L đồng ý và đưa 60.000.000 đồng cho T. Toàn bộ số tiền 180.000.000 đồng bà L đưa T đã tiêu xài cá nhân hết vì thực tế T không thể lo cho T3 tại ngoại được.
Do không thấy T3 được tại ngoại nên bà L yêu cầu Thuyết trả lại tiền nhưng do T đã tiêu xài hết số tiền và không có tiền trả nên ngày 21/9/2022, T viết “giấy mượn tiền” với bà L về số tiền 180.000.000 đồng đã nhận và hẹn ngày 21/12/2022 sẽ trả lại tiền cho bà L. Tuy nhiên, sau đó T không trả lại tiền như đã hẹn nên ngày 05/4/2023, bà L đã tố cáo hành vi T đến Công an.
Tại bản Cáo trạng số: 72/CT-VKSĐP ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày tuyên án.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú về tội danh; xin giảm nhẹ so với mức Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với khai của bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2022, sau khi được bà Cao Thị Cẩm L nhờ giúp con trai bà L đang bị tạm giam tại Công an thành phố Đ được tại ngoại, Vũ Đình T đã nói dối bà L là T có thể xin cho con trai bà L được tại ngoại, để bà L tin tưởng đưa cho T số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng), sau đó T chiếm đoạt và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đối với bị cáo Vũ Đình T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hoàn toàn tỉnh táo, nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Bị cáo biết việc đưa ra thông tin gian dối, mục đích để bà L tin tưởng và đưa tiền cho T, sau đó T chiếm đoạt số trên để tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện các bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động nhờ gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại; được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng; ngoài hành vi phạm tội này thì trước đó bị cáo đều chấp hành tốt các quy định của địa phương; có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Mặt khác, bị cáo đã bị tạm giam trong thời gian dài; được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình; xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên việc tiếp tục áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là không cần thiết và ảnh hưởng lớn đến việc chăm sóc giáo dục 2 con của bị cáo đang đi học. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Cao Thị Cẩm L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với hành vi “Môi giới hối lộ” của ông Trần Đình Đ và “Đưa hối lộ” của bà Cao Thị Cẩm L, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tách ra thành tin báo tội phạm, đang xác minh xử lý nên Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Đình T phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Đình T cho Ủy ban nhân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét xử lý
Về án phí : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Đình T, ông Trần Đình Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Sơn |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đình T- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
