TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/HS-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo và ông Huỳnh Văn Tâm.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Sương M, sinh ngày 01/10/1997 tại thị xã T, tỉnh An Giang; giới tính Nữ; nơi cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Trần Văn C, (đã chết); Họ tên mẹ: Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1972, gia đình bị cáo có 03 anh chị em; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4//2024 đến nay (có mặt).
Bị hại: Phan Thị Huỳnh H, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Võ Tấn P, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Tổ E, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Đại diện theo pháp luật của Võ Tấn P: Võ Thị Ở, sinh năm 1966; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Thị D1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Trần Nhựt H1, sinh năm 1993 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/3/2024 M đi bộ trên đường T, tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tìm tài sản lấy trộm. Trên đường đi, M gặp Phan Thị Huỳnh H cùng 03 người phụ nữ nhờ M chỉ quán Karaoke; M thấy H đeo túi xách, nghĩ trong túi xách có tiền và điện thoại di động, nên nảy sinh ý định xin đi theo nhóm của H để tìm cơ hội lấy trộm tài sản. M dẫn nhóm H đến quán K”. Khi vào phòng, H đến bấm bài hát và để túi xách trên ghế kế bên M, quan sát thấy 03 người còn lại lo ăn uống, không chú ý, M mở khóa túi xách, lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của H, bỏ vào ra túi xách của M, rồi lẻn đi ra khỏi quán, tắt nguồn điện thoại, đi bộ đến C thuộc khóm C, phường CB, mai lấy thẻ sim điện thoại ra khỏi máy và cất giấu điện thoại tìm chỗ tiêu thụ.
Đến khoảng 01 giờ ngày 01/4/2024, Võ Tấn P (sinh ngày 20/4/2006) là đối tượng sống lang thang gặp M đang ngồi trên ghế đá tại C trên tay cầm điện thoại di động nên P hỏi M “điện thoại ở đâu có”, M trả lời là lượm được và nhờ P tìm chỗ bán điện thoại thì P đồng ý, P kêu M đưa điện thoại cho P khi nào bán được sẽ chia cho M 3.000.000 đồng. Sau khi nhận được điện thoại, P gỡ bỏ ốp lưng ném bỏ, lúc này P lên cơn động kinh, bị co giật điện thoại cầm trên tay rơi xuống nền gạch làm nứt màn hình điện thoại; sau khi hết cơn động kinh, P nhặt lại điện thoại rồi đi ngủ. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị D1, sinh năm 1992, cư trú tổ A, khóm A, phường C, thành phố C đang bán mì tại C nghe nói Mai lượm được điện thoại di động nên tìm M để mua điện thoại sử dụng, D1 tìm gặp M thì M nói điện thoại đã đưa cho P nên M dẫn D1 đến gặp P để mua điện thoại, P đưa điện thoại cho D1, thấy điện thoại đã nứt màn hình, nên D1 không đồng ý mua, P và M nhờ D1 tìm chỗ bán dùm thì D1 đồng ý, cất giữ điện thoại. Riêng chị H, sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại thì H đi tìm M. Đến khoảng 11 giờ ngày 01/4/2024, thấy M đang đi bộ trên đường L, khóm C, phường CB, H giữ M và đưa đến Công an phường C, trình báo. Ngày 02/4/2024, Trần Thị Sương M bị khởi tố để điều tra.
Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 750/KL-ĐG ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, 256GB, trị giá 12.000.000 đồng; 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 033.2236.729, không xác định được giá trị; 01 ốp lưng điện thoại di động bằng nhựa màu hồng có hình trái dâu màu đỏ, trị giá 10.000đồng. Tổng giá trị tài sản 12.010.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSCĐ-HS ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Trần Thị Sương M về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Thị Sương M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Sương M từ 09 tháng đến 01 năm tù. Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, tại quán K” tổ C, khóm C, phường C, thành phố C bị cáo M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, 256GB, trị giá 12.000.000 đồng; 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 033.2236.729, không xác định được giá trị; 01 ốp lưng điện thoại di động bằng nhựa màu hồng có hình trái dâu màu đỏ, trị giá 10.000đồng. Tổng giá trị tài sản 12.010.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo M là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo có học lực thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo M có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đã trả lại cho bị hại nên không đề cập giải quyết.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Sương M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thị Sương M 09 (chín) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 03/4/2024 (Ngày ba tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị Sương M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt tù
