Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Anh C, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số C A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh Q và bà Trần Bích T; có vợ Nguyễn Thị Thu N và 02 con; tiền án: 02, Bản án số 06/2008/HSST ngày 18/01/2008, Tòa án nhân dân quận Hải An xử 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 40 tháng thử thách về tội Trộm cắp tài sản. C chưa thi hành phần trách nhiệm bồi thường; Bản án 177/2020/HS-ST ngày 31/12/2020, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. C đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 23/12/2021; tiền sự: Không; tạm giữ ngày 17/11/2023, tạm giam ngày 22/11/2023; có mặt.
  2. Đinh Xuân T1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1973 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số A L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số E Lô B L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân T2 và bà Lưu Thị Đ (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị Quý H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 17/11/2023, tạm giam ngày 22/11/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy Heroine nên khoảng 08 giờ 00 phút ngày 17/11/2023, Nguyễn Anh C đi bộ một mình đến nhà Đinh Xuân T1 để rủ T1 cùng đi mua ma túy về sử dụng. T1 đồng ý, cả hai thống nhất là C góp số tiền 1.000.000 đồng, còn T1 sẽ đi mua ma tuý về cùng sử dụng. Sau đó, C điều khiển xe mô tô YAMAHA BKS 34K7-3429 chở T1 đi đến khu vực đường T, L, Hải Phòng. Đến nơi, C đứng ở bên ngoài đợi, T1 xuống xe, đi bộ một mình vào bên trong, gặp và mua của 01 người phụ nữ không quen biết 1.000.000 đồng (số tiền trước đó C đưa) được 03 gói ma túy Heroine. T1 cất giấu 02 gói vào trong túi áo khoác phía trước bên phải, 01 gói ma tuý còn lại T1 cất giấu trong túi quần phía trước bên phải, rồi đi ra nói với C: “Mua được rồi, đi thôi”. C hiểu rằng T1 đã mua được ma tuý nên điều khiển xe máy chở T1 đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi cả hai đi đến trước cửa nhà số B đường N, M, Ngô Q1, Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an phường M kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 02 gói nilon có kích thước mỗi gói khoảng 1,5x2cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng trong túi áo khoác phía trước bên phải T1 đang mặc; 01 gói nilon có kích thước khoảng 1,5x2cm bên trong chứa chất bột màu trắng trong túi quần phía trước bên phải T1 đang mặc; 01 xe mô tô hai bánh mang nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ BKS 34K7-3429 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số Imei 1 là 359995054654825, lắp 02 sim điện thoại 0398.436.xxx và 0931568928 của T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có số Imei 1 là 863827056629217, lắp sim điện thoại 0768.383.xxx của C.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Anh CĐinh Xuân T1 cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy H1.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Xuân T1Nguyễn Anh C không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Kết luận giám định số 942/KL-KTHS ngày 20/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; có khối lượng: 0,67 gam; loại: Heroine”.

Kết luận giám định số 1371/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, mang BKS 34K7-3429 có số khung và số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự”.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Anh CĐinh Xuân T1 đã khai nhận những nội dung nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKSNQ ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Nguyễn Anh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo Đinh Xuân T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Anh CĐinh Xuân T1 khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh C mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Xuân T1 mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 942MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H bên trong gồm 0,59 gam chất bột cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số Imei 1 là 359995054654825, lắp 02 sim điện thoại 0398.436.xxx và 0931568928; trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có số Imei 1 là 863827056629217, lắp sim điện thoại 0768.383.xxx do không liên quan đến việc phạm tội.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Anh CĐinh Xuân T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 17/11/2023, tại khu vực trước cửa nhà số B đường N, M, Ngô Q1, Hải Phòng, Đinh Xuân T1Nguyễn Anh C có hành vi cất giữ trái phép 0,67 gam Heroine với mục đích là để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Đinh Xuân T1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Anh C có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo C đủ yếu tố cấu thành của “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác.Vì vậy cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

[5] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó: bị cáo Nguyễn Anh C là người khởi xướng, bỏ tiền, trực tiếp điều khiển xe mô tô để chở T1 đi mua ma túy; còn bị cáo Đinh Xuân T1 là người tiếp nhận ý chí của bị cáo C, trực tiếp giao dịch để mua ma túy. Do đó, bị cáo C có vai trò cao hơn bị cáo T3.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T1 có anh trai là thương binh hạng ¼ và đang hưởng chế độ thờ cúng liệt sỹ nên bị cáo T1 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

- Về việc xử lý vật chứng:

[8] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 942MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H bên trong gồm 0,59 gam chứa ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.

[9] Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình: Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số Imei 1 là 359995054654825, lắp 02 sim điện thoại 0398.436.xxx và 0931568928; trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có số Imei 1 là 863827056629217, lắp sim điện thoại 0768.383.xxx do không liên quan đến việc phạm tội.

[10] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ BKS 34K7-3429, chủ xe là Nguyễn Việt T4, trú tại số E C, T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên kết quả xác minh không có người tên Nguyễn Việt T4 cư trú tại địa chỉ trên. T1 khai nhận xe này mua của một người không quen biết từ lâu và không nhỡ rõ thông tin về người này. Đến thời điểm hiện tại chưa xác định được thông tin về phương tiện trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N ra Quyết định tách số 207 ngày 22/01/2024 để làm rõ, xử lý sau nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[11] Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đinh Xuân T1Nguyễn Anh C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[12] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[13] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T1, đến nay chưa xác định được căn cước lai lịch, chưa có căn cứ xử lý nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Anh C);
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Đinh Xuân T1);
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh CĐinh Xuân T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/11/2023.
  • Xử phạt bị cáo Đinh Xuân T1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/11/2023
  • - Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 942MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H bên trong gồm 0,59 gam chứa ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
    • + Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số Imei 1 là 359995054654825, lắp 02 sim điện thoại 0398.436.xxx và 0931568928; trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có số Imei 1 là 863827056629217, lắp sim điện thoại 0768.383.xxx
  • Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đinh Xuân T1Nguyễn Anh C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Đinh Xuân T1Nguyễn Anh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger