|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HSST Ngày: 15-4-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh N (tên gọi khác: không), sinh ngày 15/7/1989;
Giới tính: Nam; Tại: tỉnh Bến Tre; Nơi thường trú: 15/3, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Nơi tạm trú: Số D, đường N, Tổ H, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Nguyễn Thị B (đã chết), con ông: không rõ; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/12/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Lê Văn Đ (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường N, Tổ B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, tỉnh Long An, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định trộm cắp tài sản, đem bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 16 giờ 00 ngày 03/12/2023, Nguyễn Minh N đi bộ từ ấp T đến khu vực ấp M, tìm tài sản của người dân sơ hở để trộm cắp. Khi đến trước nhà không số trên đường T, Tổ E, ấp M, xã T, N quan sát phía trước cửa nhà ông Võ Bá T, có dựng 01 xe mô tô biển số 62P1-540.23 của bà Nguyễn Thị M là vợ của ông T và chìa khóa còn cắm ở ổ khóa, N đột nhập vào lấy trộm xe mô tô dẫn bộ ra hướng đường Tỉnh lộ 8 được một đoạn khoảng 20 mét, chủ nhà phát hiện, truy hô nên N bỏ xe, chạy bộ về phía đồng ruộng được khoảng 150 mét, N bị quần chúng nhân dân cùng lực lượng Công an xã T bắt giữ.
Ngoài ra, vào ngày 02/12/2023, N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 xe mô tô biến số: 55Y5-5729 của ông Lê Văn Đ tại ấp T, xã T. Sau khi lấy trộm được tài sản, N điều khiển xe đến tiệm cầm đồ "Tấn Đạt" ở xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Nguyễn Thị D làm chủ và ông Nguyễn Văn C quản lý, N nói xe này của người anh, ông C không biết tài sản phạm tội mà có nên đồng ý cầm xe với số tiền 1.500.000 đồng, N tiêu xài cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số: 248/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda màu đen bạc, biển số 62P1-540.23, số máy HC12E7202213, số khung: RLHHC1252F Y202146 có giá trị 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
Kết luận định giá tài sản số: 249/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda màu xanh đen ghi - đỏ, biển số 55Y5-5729, số máy: JC43E5522306, số khung: RLHJC4325A Y069754 có giá trị 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô hiệu Honda màu đen bạc, biển số 62P1-540.23, số máy HC12E7202213, số khung: RLHHC1252FY202146. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Nguyễn Thị M.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda màu xanh đen ghi-đỏ, biển số 55Y5-5729, số máy: JC43E5522306, số khung: RLHJC4325A Y069754. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp ông Lê Văn Đặng .
Phần dân sự:
- Ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.
- Bà Nguyễn Thị D chủ tiệm cầm đồ không yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số: 76/CT- VKS.CC ngày 15 tháng 3 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Minh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị: Phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
* Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được trả lại cho bị hại.
* Về dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường.
* Bị cáo Nguyễn Minh N tự bào chữa: Không.
* Lời nói sau cùng của Bị cáo: Bị cáo đã ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên Tòa, bị cáo Nguyễn Minh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của Bị cáo là phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 02/12/2023, bị cáo N đã có hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 55Y5-5729 của ông Lê Văn Đặng. Tiếp đó, vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/12/2023, bị cáo N đã có hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 62P1-540.23 của bà Nguyễn Thị M.
Theo kết luận định giá tài sản số 248/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda màu đen bạc, biển số 62P1-540.23, số máy HC12E7202213, số khung: RLHHC1252F Y202146 có giá trị 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đông).
Theo kết luận định giá tài sản số 249/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda màu xanh đen ghi - đỏ, biển số 55Y5-5729, số máy: JC43E5522306, số khung: RLHJC4325A Y069754 có giá trị 5.000.000₫ (năm triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo có chiếm đoạt là 11.500.000đ (mười một triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền thỏa mãn tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý Bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo đã hai lần trộm cắp tài sản của ông Đ và bà M. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[6] Xét vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô hiệu Honda màu đen bạc, biển số 62P1-540.23, số máy HC12E7202213, số khung: RLHHC1252FY202146. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Nguyễn Thị M là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda màu xanh đen ghi-đỏ, biển số 55Y5-5729, số máy: JC43E5522306, số khung: RLHJC4325A Y069754. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Lê Văn Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Đối với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo có được từ việc cầm xe mô tô biển số 55Y5-5729, bà Nguyễn Thị D không yêu cầu bị cáo bồi thường, bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) nên ghi nhận là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sở thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023.
- Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh N nộp lại 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 86/2024/HSST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 86/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
