|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 86/2024/DS-ST
Ngày: 19-7-2024
“V/v tranh chấp hợp tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Nguyễn Văn Trí;
- 2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 441/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 326/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; địa chỉ: số A Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Thanh L, chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo văn bản ủy quyền số 2920/2022/QĐ-TGĐ ngày 17/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; văn bản ủy quyền số 162/2023/UQ-BAB.AG ngày 13/11/2023 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B – Chi nhánh A; địa chỉ: số A đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; có mặt.
Bị đơn: Ông Đổ Văn C, sinh năm 1956, bà Lê Thị D, sinh năm 1956; địa chỉ: cùng ngụ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Đức S, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, ngày 13/02/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B - Chi nhánh A (sau đây được viết tắt là chi nhánh Ngân hàng) và ông Đổ Văn C và bà Lê Thị D đã ký kết hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD - BABAG. Theo đó, chi nhánh Ngân hàng cho ông C, bà D vay số tiền 1.540.000.000 đồng, thời gian duy trì hạn mức: 12 tháng (từ ngày 13/02/2023 đến hết ngày 12/02/2024); thời hạn cho vay của mỗi Khoản nợ: tối đa 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân khoản nợ đó và được quy định cụ thể trong từng Khế ước nhận nợ; mục đích vay: vay bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh mua bán lúa gạo; lãi suất cho vay theo thỏa thuận của các bên tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trong từng Khế ước nhận nợ; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả bằng 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi. Ngày 18/08/2023, ông Đổ Văn C và bà Lê Thị D ký Khế ước nhận nợ số 02-015/2023/HĐTD-BABAG, chi nhánh Ngân hàng đã giải ngân cho ông C, bà D số tiền 1.540.000.000 đồng. Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 19/08/2023 đến 19/02/2024. Lịch trả nợ gốc: Gốc trả cuối kỳ vào ngày đáo hạn khoản vay; Lịch trả nợ lãi: 01 tháng/lần vào ngày 25 hàng tháng.
Để đảm bảo khoản vay, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D, được Văn phòng C2, tỉnh An Giang chứng nhận, bao gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D;
- Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đổ Văn C;
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Cho nên, chi nhánh Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số dư nợ gốc và lãi vay của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn.
Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhắc nhở yêu cầu ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D trả nợ, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D cam kết nhiều lần nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.
3
Vì vậy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B yêu cầu ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 13/11/2023 là: 1.579.374.249 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 39.081.727 đồng, nợ lãi quá hạn: 292.522 đồng. Yêu cầu tính lãi phát sinh kể từ ngày ngày 14/11/2023 cho đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD-BABAG ngày 13/02/2023 đã ký. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 015/2023/HĐTC-BABAG, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D đã kí với với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B - Chi nhánh A vào ngày 13/02/2023 để đảm bảo thi hành án.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD-BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D (bản sao); Khế ước nhận nợ ngày 18/08/2023 (bản sao); Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D (bản sao) và các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan.
- Bị đơn ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
- Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày, giữa ông S và ông C, bà D là chỗ quen biết với nhau, ông S có canh tác diện tích đất nông nghiệp gần với diện tích đất ông C bà D đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B – Chi nhánh A. Do ông C bà D cầm cố quyền sử dụng đất này nên ông S đồng ý cố toàn bộ diện tích gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D; Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đổ Văn C. Giá cầm cố là 900.000.000 đồng, thời hạn cầm cố là 02 năm kể từ ngày 22/11/2021 đến hết ngày 22/11/2023, thỏa thuận với nhau khi hết thời hạn nêu trên ông C1 bà D trả lại cho ông S số tiền 900.000.000 đồng, ông S sẽ trả lại đất cho ông C bà D, ông S trực tiếp canh tác đất từ thời điểm đó cho đến nay, hiện trạng do ông S trồng lúa. Đến hạn, ông S đã nhiều lần yêu cầu mà ông C bà D không trả tiền cho ông S. Nay yêu Tòa án tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất được lập giữa ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D với ông Phạm Đức S là vô hiệu. Yêu cầu ông Đổ Văn C và bà Lê Thị D trả lại số tiền cầm cố quyền sử dụng đất là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) cho ông Phạm Đức S, ông Phạm Đức S đồng ý trả lại toàn bộ diện tích đất hiện là tài sản thế chấp cho bà Lê Thị D, ông Đổ Văn C.
Tại phiên tòa:
4
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Đồng thời, yêu cầu ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số nợ tạm tính đến hết ngày 19/7/2024 là 1.735.995.084 đồng; trong đó, nợ gốc 1.540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 86.112.041 đồng, nợ lãi quá hạn 109.883.043 đồng; tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc từ ngày 20/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD - BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông C, bà D cho đến khi thanh toán dứt nợ. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 015/2023/HĐTC-BABAG mà ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D đã kí với với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B - Chi nhánh A vào ngày 13/02/2023 để đảm bảo thi hành án.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 85, 86 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, vắng mặt không lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đức S có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa chi nhánh Ngân hàng với ông C, bà D được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và được giải ngân xong với số tiền vay 1.540.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Cho nên, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C, bà D trả nợ vốn và nợ lãi tính đến ngày 19/7/2024 với số tiền 1.735.995.084 đồng; trong đó, nợ gốc 1.540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 86.112.041 đồng, nợ lãi quá hạn 109.883.043 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự và các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng.
Đối với yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng được đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D, được Văn phòng C2, tỉnh An Giang chứng nhận và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh T. Cho nên, việc Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án là có căn cứ theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Dân sự và Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
5
Về việc cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Đức S với ông C, bà D, theo tờ thỏa thuận cố đất do ông S cung cấp có nội dung ông C bà D cầm cố quyền sử dụng đất hiện đang thế chấp cho Ngân hàng, giá cầm cố là 900.000.000 đồng, thời hạn cầm cố là 02 năm kể từ ngày 22/11/2021 đến hết ngày 22/11/2023, thỏa thuận với nhau khi hết thời hạn nêu trên ông C1 bà D trả lại cho ông S số tiền 900.000.000 đồng, ông S sẽ trả lại đất cho ông C bà D. Cho nên, có căn cứ xác định 02 bên có lập hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do đây là giao dịch phát sinh trong nhân dân, không được pháp luật thừa nhận, bảo vệ nên đương nhiên vô hiệu.
Về xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu, do hợp đồng vô hiệu nên ông C, bà D có nghĩa vụ trả cho ông S số tiền 900.000.000 đồng và ông S có nghĩa vụ trả lại 02 quyền sử dụng đất cho ông C, bà D.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 122, 123, 131, 323, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: Công nhận hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất gữa Ngân hàng Thương mại cổ phần B với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B. Buộc ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B nợ vốn và nợ lãi tính đến ngày 19/7/2024 với số tiền 1.735.995.084 đồng; trong đó, nợ gốc 1.540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 86.112.041 đồng, nợ lãi quá hạn 109.883.043 đồng. Ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D tiếp tục thanh toán lãi phát sinh trên hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án. Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giưa ông Phạm Đức S với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D là vô hiệu, buộc ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Đức S số tiền 900.000.000 đồng. Buộc ông Phạm Đức S trả lại toàn bộ diện tích đất nhận cầm cố cho ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi cho vay dưới hình thức hợp đồng tín dụng. Ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D hiện cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng. Do vậy, vụ án được xác định là tranh chấp giao dịch dân sự về Hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
6
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, trong đó, ông C, bà D vắng mặt không rõ lý do; ông S có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD - BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD - BABAG 13/02/2023, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D được Ngân hàng B giải ngân số tiền 1.540.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ ngày 18/08/2023. Sau khi vay, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D không có trả nợ lãi cho Ngân hàng. Cho nên, tạm tính đến ngày 19/7/2024, ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D còn nợ Ngân hàng B số tiền 1.735.995.084 đồng; trong đó, nợ gốc 1.540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 86.112.041 đồng, nợ lãi quá hạn 109.883.043 đồng.
[4] Về biện pháp bảo đảm:
Để đảm bảo khoản vay, ông C, bà D đã thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B - Chi nhánh A các tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023, được Công chứng Cao Thị Cúc H, tỉnh An Giang chứng nhận và được đăng ký tại Văn phòng Đ – chi nhánh T, bao gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D;
- Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đổ Văn C;
Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
[5] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Do ông C, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông C, bà D trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy
7
định tại các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông C, bà D để đảm bảo cho việc thi hành án là phù hợp với nội dung hợp đồng thế chấp đã ký kết, quy định tại các Điều 293, 299, 320, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B; buộc ông C, bà D trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B tổng số tiền 1.735.995.084 đồng; trong đó, nợ gốc 1.540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 86.112.041 đồng, nợ lãi quá hạn 109.883.043 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD - BABAG ngày 13/02/2023 kể từ ngày 30/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023, được Công chứng Cao Thị Cúc H, tỉnh An Giang chứng nhận và được đăng ký tại Văn phòng Đ – chi nhánh T gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D; Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đỗ Văn C để đảm bảo cho việc thi hành án.
[6] Về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đối với các quyền sử dụng đất thế chấp, được xác lập giữa ông Phạm Đức S với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D. Xét hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vi phạm điều cấm nên vô hiệu theo các Điều 122, 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều 166, 167 Luật Đất đai năm 2013. Cho nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Đức S.
Về xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu, do hợp đồng vô hiệu nên ông C, bà D có nghĩa vụ trả cho ông S số tiền 900.000.000 đồng và ông S có nghĩa vụ trả lại 02 quyền sử dụng đất cho ông C, bà D.
[7] Về chi phí tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Ngân hàng Thương mại cổ phần B đã tạm tứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 2.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên buộc ông C, bà D hoàn trả cho Ngân hàng 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định của pháp luật (người cao tuổi).
8
Ngân hàng Thương mại cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông Phạm Đức S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Phạm Đức S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 122, 123, 131, 293, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 157, 158, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
Buộc ông Đỗ Văn C, bà Lê Thị D trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B nợ gốc và nợ lãi của khoản vay như sau:
- Nợ lãi tính đến hết ngày 19/7/2024: 195.995.084 (một trăm chín mươi lăm triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, không trăm tám mươi bốn) đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 86.112.041 (tám mươi sáu triệu, một trăm mười hai nghìn, không trăm bốn mươi mốt) đồng, nợ lãi quá hạn 109.883.043 (một trăm lẻ chín triệu, tám trăm tám mươi ba nghìn, không trăm bốn mươi ba) đồng;
- Nợ gốc: 1.540.000.000 (một tỷ, năm trăm bốn mươi triệu) đồng và tiền lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 015/2023/HĐTD - BABAG ngày 13/02/2023 giữa chi nhánh Ngân hàng với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 015/2023/HĐTC-BABAG ngày 13/02/2023, được Công chứng Cao Thị Cúc H, tỉnh An Giang chứng nhận và được đăng ký tại Văn phòng Đ – chi nhánh T gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D; Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đổ Văn C để đảm bảo cho việc thi hành án.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Đức S đối với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D.
9
Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D; Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đổ Văn C, theo Tờ thỏa thuận cố đất không đề ngày, tháng, năm giữa ông Phạm Đức S với ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D là vô hiệu.
Buộc ông Đỗ Văn C, bà Lê Thị D hoàn trả cho ông Phạm Đức S số tiền nhận cầm cố 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc ông Phạm Đức S giao trả cho ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D quyền sử dụng đất diện tích 12052m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01762QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị D; Quyền sử dụng đất diện tích 24230m², tọa lạc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01767QSDĐ/iH ngày 23/3/1994 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Đổ Văn C.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Buộc ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định của pháp luật (người cao tuổi).
Ngân hàng Thương mại cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp 29.691.000 (hai mươi chín triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014861 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Ông Phạm Đức S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Đức S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 19.800.000 (mười chín triệu, tám trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015431 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng Thương mại cổ phần B có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
10
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Đổ Văn C, bà Lê Thị D, ông Phạm Đức S được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy |
Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp tín dụng
- Số bản án: 86/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
