|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày 16-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định và ông Nguyễn Đức Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tùng N, tên gọi khác: không có, sinh ngày 02/4/1985 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: tổ A, khu B, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: tổ A, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú T và bà Lương Thị T1; vợ: Phạm Thị Đoan T2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến ngày 18/8/2023, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 18/8/2023, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đinh Văn H, tên gọi khác: không có, sinh ngày 21/7/1968 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ A, khu B, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể: Đảng viên Đ1 (ngày 08/9/2023, Ban chấp hành Đảng bộ Công ty T7 ban hành quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng); con ông Đinh Văn T3 (đã chết) và bà Đoàn Thị M; vợ: Phạm Thị D và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến ngày 18/8/2023, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 18/8/2023, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, tên gọi khác: không có, sinh ngày 03/3/1994 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu T, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 và bà Nguyễn Thị T4; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến ngày 18/8/2023, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 18/8/2023, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Phạm Minh Đ, tên gọi khác: không có, sinh ngày 14/02/1984 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ B, khu A, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang H2 và bà Cao Thị T5; vợ: Nông Thị H3 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến ngày 18/8/2023, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 18/8/2023, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Cao C, tên gọi khác: không có, sinh ngày 20/5/1988 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ A, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Vũ Thị B (đã chết); vợ: Nguyễn Bích T6 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 20/3/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 20/3/2019 chấp hành xong thời gian thử thách; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến ngày 18/8/2023, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 18/8/2023, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Như H5, sinh năm: 1962; địa chỉ: tổ B, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/8/2023, Nguyễn Tùng N cùng Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C ăn cơm tại nhà N ở tổ A, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Trong lúc ăn cơm, N rủ mọi người sau khi ăn cơm xong thì lên phòng ngủ của gia đình N để đánh bạc bằng hình thức chơi “lốc” được thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, tất cả lên phòng ngủ tầng 3, trên giường có sẵn 01 bộ bài tú lơ khơ, thứ tự ngồi trên giường tính từ cửa phòng đi vào từ trái qua phải là N – C – H - H – Đ.
Hình thức chơi như sau: cả nhóm sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài, quy ước lá 3 là quân bài nhỏ nhất, lá 2 là quân bài lớn nhất. Khi bắt đầu chơi, trộn đều rồi mỗi người chọn một lá bài, ai chọn được lá nhỏ nhất thì chia bài. Từ ván thứ hai trở đi, người thắng ván trước được chia bài, mỗi người chơi được chia 10 lá bài, những lá bài còn lại úp xuống để trên giường. Khi lên bài, nếu có người “báo bài” (các lá bài là dãy các quân bài liên tiếp và thông báo cho những người chơi còn lại biết) và không ai “bắt báo” (các lá bài là dãy các quân bài liên tiếp lớn hơn người báo bài) được thì những người còn lại phải trả cho người đã “báo bài” số tiền 100.000 đồng/1 người/1 ván bài; nếu người đã “báo bài” bị người chơi còn lại “bắt báo” thì người đã “báo bài” phải trả cho người “bắt báo” số tiền 500.000 đồng/ván. Nếu không có người “báo bài” thì người chia bài được đánh trước, lần lượt từ trái qua phải, không chơi đồng chất, đồng màu. Ai đánh hết bài cầm trên tay trước là người thắng, số người còn lại trả cho người thắng số tiền tương ứng với số lá bài còn lại trên tay nhân với 5.000 đồng. Khi có người thắng mà người chơi còn lại còn nguyên 10 lá bài trên tay thì gọi là “lủng", phải trả cho người thắng 70.000 đồng/1 ván bài.
Tất cả đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Đ2 Công an thành phố U kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc: 8.110.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài đã qua sử dụng. Ngoài ra Công an còn tạm giữ trong người của C số tiền 1.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh, cùng sim số 086.873.0xxx; tạm giữ trong người của Hiệu 7.700.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20FE, màu xanh, cùng sim số 033.432.1xxx; tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus, màu vàng, cùng sim số 083.677.4xxx; tạm giữ của N 01 điện thoại di động hiệu iPhone 14 Pro, màu vàng, cùng sim số 083.814.5xxx; tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, màu trắng, cùng sim số 098.208.7xxx.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Tùng N, Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ, Nguyễn Cao C đều thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cụ thể: khi bắt đầu chơi, N bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng, H bỏ ra số tiền 2.760.000 đồng, Đ bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng, C bỏ ra số tiền 1.050.000 đồng, H1 bỏ ra số tiền 1.300.000 đồng; số tiền còn lại trong người các bị cáo không sử dụng để đánh bạc.
Tại Cáo trạng số: 135/CT-VKSQN-P2 ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tùng N, Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố các bị cáo; đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS (điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS Đối với các bị cáo N, H, H1 và Đ; khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo C); Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Tùng N từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; xử phạt các bị cáo Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài đã qua sử dụng; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 8.110.000 đồng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H1 7.700.000 đồng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Cao C 1.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến ông Nguyễn Như H5, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, thành phố U lập hồi 13 giờ 50 phút ngày 13/8/2023 cùng bản ảnh vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 13/8/2023, tại phòng ngủ tầng 3 ngôi nhà của Nguyễn Tùng N thuộc tổ A, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Tùng N, Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “lốc”. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố U bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.110.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình của những người ham mê đỏ đen, là nguyên nhân làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Mặc dù các bị cáo là người đã trưởng thành và biết rõ việc đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi, sống thiếu gương mẫu với gia đình, làng xóm, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Xét vai trò và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc từ trước mà các bị cáo phạm tội do bột phát. Tuy nhiên N là người rủ rê, khởi xướng lại dùng chính chỗ ở của mình làm nơi đánh bạc và bỏ ra số tiền lớn để đánh bạc nên N giữ vai trò đầu, tiếp đến là H, H1, Đ và sau cùng là C. Các bị cáo N, H, H1 và Đ là những người có nhân thân tốt lần đầu phạm tội; bị cáo C có nhân thân xấu đã bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích và có vai trò không đáng kể trong vụ án.
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (các bị cáo N, H, H1 và Đ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo C tham gia với vai trò không đáng kể trong vụ án và là lao động chính trong gia đình lại phải nuôi 02 con nhỏ, bố bị cáo thường xuyên ốm đau, điều kiện kinh tế khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú, bị cáo N còn tham gia gia công tác thiện nguyện, nên không cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét các bị cáo là những người có điều kiện kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Đối với các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ số: 61/2023/HSST-LCCT đến số: 65/2023/HSST-LCCT và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ số: 122/2023/HSST-QĐTHXC đến số: 12 6/2023/HSST-QĐTHXC cùng ngày 31/10/2023 đối với các bị cáo cần được hủy bỏ.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy; số tiền 8.110.000 đồng thu tại chiếu bạc là vật chứng của vụ án nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 7.700.000 đồng thu trong người bị cáo C và 1.500.000 đồng thu trong người bị cáo H1 là tài sản riêng của các bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho các bị cáo.
- Đối với 05 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo nên không đề cập.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Tùng N, Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Tùng N 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Đinh Văn H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Văn H1 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Phạm Minh Đ 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Cao C 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Tùng N, Đinh Văn H, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo N, H, Đ và C có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H1 cho Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H1 có trách nhiệm phối hợp với UBND phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ số: 61/2023/HSST-LCCT đến số: 65/2023/HSST-LCCT và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ số: 122/2023/HSST-QĐTHXC đến số: 126/2023/HSST-QĐTHXC cùng ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài đã qua sử dụng; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 8.110.000 đồng; trả lại bị cáo Nguyễn Văn H1 7.700.000 đồng, trả lại bị cáo Nguyễn Cao C 1.500.000 đồng.
(Số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và Biên bản giao nhận tài sản ngày 29/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Kho bạc Nhà nước thành phố U, tỉnh Quảng Ninh)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Tùng N, Đinh Văn H, Nguyễn Văn H1, Phạm Minh Đ và Nguyễn Cao C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Huy Hùng |
Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc
- Số bản án: 86/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tùng N cđp - Đánh bạc
