Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày 16/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần những người tiến hành tố tụng:

Thẩm phán: Ông Trần Cơ D

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Tấn B; sinh ngày 10/4/1984, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: 108A Ô 1, Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Chổ ở: 109 lầu 1, lô C, chung cư P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn P và bà Nguyễn Thị Kim P1; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Kim N, có một người con sinh năm 2022; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/8/2024 đến ngày 11/8/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Đình A; địa chỉ: A N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 08/8/2024, đối tượng Võ Tấn B đi bộ đến khu vực cụm sân bóng đá tại địa chỉ số B L, Phường A, Quận A để chơi. Lúc này, đối tượng B nhìn thấy túi đeo chéo màu đen của ông Trần Đình A để bên dưới cây đàn ghi-ta ở khu vực đường biên dọc của sân bóng, không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Đối tượng B lén lấy túi đeo chéo bỏ vào áo khoác màu đen và cầm trên tay bỏ đi thì bị ông Trần Đình A phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là 01 túi deo chéo màu đen bên trong có 01 (một) điện thoại di động hiệu S A73 5G, màu xám, dung lượng 128G, 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu xanh dương, dung lượng 64G và số tiền 1.050.000 đồng, giao cho Công an P2, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A1, kết luận: 01 (một) túi đeo chéo màu đen có dòng chữ “FIT FOR FUTURE” trị giá 52.500 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu S A73 5G, màu xám, dung lượng 128G trị giá 4.975.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu xanh dương, dung lượng 64G trị giá 1.100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 6.127.500 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Võ Tấn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý:

  • Một túi đeo chéo màu đen có dòng chữ: “BGSW FIT FORFUTURE”; một điện thoại di động hiệu Samsung A73 5G, màu đen; một điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu xanh đen và số tiền 1.050.000 đồng là những tài sản của ông Trần Đình A do bị can B chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho ông Trần Đình A.
  • Một điện thoại Nokia 1202 màu xám xanh, sim số 0777667737; một ba lô da màu nâu, một áo khoác dài tay màu đen, một áo thun ngắn tay màu xanh, một quần Jeans dài, một đôi giày thể thao màu đen là tài sản cá nhân của bị can Võ Tấn B. Những tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại những tài sản nêu trên cho bị can B.
  • Lưu vào hồ sơ vụ án một DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Trần Đình A đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 96/QĐ-VKSQ11 ngày 30/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Võ Tấn B tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Tấn B có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là ông Trần Đình A vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã cung cấp lời khai tại Cơ quan điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường, không có ý kiến gì khác.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau: Lưu vào hồ sơ vụ án một DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình liên quan đến vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 08/8/2024, tại khu vực cụm sân bóng đá tại địa chỉ số B L, Phường A, Quận A, bị cáo Võ Tấn B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một túi đeo chéo màu đen, bên trong có một điện thoại di động hiệu Samsung A73 5G, màu đen, một điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu xanh đen và số tiền 1.050.000 đồng của ông Trần Đình A.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 6.127.500 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện; vì vậy cần có một chế tài phù hợp để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về cơ sở xem xét áp dụng án treo đối với bị cáo:

Bị cáo bị xét xử tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhân thân tốt, không có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng đủ răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một túi đeo chéo màu đen có dòng chữ: “BGSW FIT FORFUTURE”; một điện thoại di động hiệu Samsung A73 5G, màu đen; một điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu xanh đen và số tiền 1.050.000 đồng là những tài sản của ông Trần Đình A do bị cáo B chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho ông Trần Đình A. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.

Đối với vật chứng là một điện thoại Nokia 1202 màu xám xanh, sim số 0777667737, một ba lô da màu nâu, một áo khoác dài tay màu đen, một áo thun ngắn tay màu xanh, một quần Jeans dài, một đôi giày thể thao màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo Võ Tấn B. Những tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại những tài sản nêu trên cho bị cáo B. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.

Đối với vật chứng là một DVD có nội dung ghi âm, ghi hình liên quan đến vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập và đưa vào hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là ông Trần Đình A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường, không có ý kiến gì khác nên Tòa án không xem xét.

[5] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Võ Tấn B, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Võ Tấn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Tấn B 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án 16/9/2024.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường D1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Lưu vào hồ sơ vụ án một DVD có nội dung ghi âm, ghi hình liên quan đến vụ án.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Chủ tọa giải thích án treo)./.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - UBND Phường 4, Quận 8;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger