|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày: 15 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2023/TLST- HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Chí T, sinh ngày 19/4/2005, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967, đã chết và bà Phạm Thị M, sinh năm 1967; anh chị em có 02 người bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Hồ Bích H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước.
2. Võ Kiến T2, sinh ngày 02/4/1994, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; có vợ Nguyễn Thị Yến N1, sinh năm 2000; con có 01 người, sinh năm 2019; anh chị em có 06 người, bị cáo là người
thứ sáu; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Huỳnh Tấn T3, sinh ngày 31/3/2002, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trung K, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị M1, sinh năm 1976; anh chị em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn N2, sinh ngày 13/10/2001, nơi sinh:thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1969, đã chết và bà Trần Thị M2, sinh năm 1970; anh chị em có 04 người, bị cáo là người thứ tư; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11/3/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5. Trần Văn T4 (T4 địa), sinh ngày 12/6/1990, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Cao Thị H2, sinh năm 1967; anh chị em có 06 người, bị cáo là người thứ ba; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 03/10/2013 bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế - Công an tỉnh A xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng T5, sinh năm 1998; nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Em Bùi Văn N3, sinh năm 2008; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Người giám hộ của em N3: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Người làm chứng: Các ông (bà) Lê Thị Ngọc H4, có mặt; Lý Thị H5, Nguyễn Vi T6, Nguyễn Văn M3, Nguyễn Văn Ă, sinh năm 1952; Thái Thị L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Chí T, Nguyễn Văn N2 (anh họ T), Võ Kiến T2, Huỳnh Tấn T3, Trần Văn T4 và Bùi Văn N3, đi chơi chung nhóm và có quen biết Nguyễn Hoàng T5, do ở cùng khóm V, phường C, thành phố C.
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 24/9/2022, T điều khiển xe mô tô chạy ngang nhà T5 thuộc tổ G, khóm V, phường C, thấy T5 đậu xe mô tô trước cửa nhà, nẹt pô nổ lớn tiếng nên T nhìn T5 thì xảy ra cự cãi và dùng mũ bảo hiểm đánh nhau, được người dân can ngăn, T bỏ đi đến nhà N3 và rủ N3, N2 đi tìm đánh T5.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, T lấy 01 ống tuýp tròn bằng kim loại, kích thước (103 x 03) cm có sẵn ở nhà N3, cùng N3 đi trước, N2 điều khiển xe mô tô đi sau. Trên đường đi, gặp T3 điều khiển xe mô tô biển số 67B1-646.23, do trước đó, T3 nghe tin T bị T5 đánh nên liền đi theo để đánh tiếp T. Khi còn cách nhà T5 khoảng 05m, N3 gặp T2 đang ở gần đó nên T, N3, T2, T3 và N2 cùng đi đến nhà tìm T5.
Lúc này, T5, tay phải cầm cây dao (loại dao yếm), dài khoảng 40cm, từ trong nhà đi ra đến tiệm tạp hóa của Thái Thị L gần đó la hét, cự cãi lại nhóm của T, được Lê Thị Ngọc H4, Nguyễn Vi T6 (là vợ và mẹ vợ của T5) khuyên ngăn, nhóm T chuẩn bị đi về, thì T5 cầm dao chạy đến, T2 liền nhặt 01 khúc gỗ dẹp dài 97cm cầm sẵn trên tay. T5 xông đến chém T2; T2 tránh được, hai tay cầm khúc gỗ đánh ngang từ phải sang trái trúng vào lưng của T5 01 cái làm T5 chúi người, rơi cây dao, té ngã nghiêng sang phải. Thiết ném bỏ khúc gỗ, dùng chân trái đạp tay trái của T5 đang nhặt lại cây dao, làm tay trái của T5 trúng lưỡi dao gây thương tích. T2 ngồi xuống, dùng khuỷu tay phải chấn đầu của T5 đè xuống đường, gối chân phải đè vào cánh tay phải của T5. Ngây liền nhặt 01 viên gạch thẻ, dài khoảng 08cm, đứng phía sau lưng T5, khom người đánh vào đỉnh đầu của T5 01 cái, ném bỏ viên gạch, tiếp tục dùng chân đá 02 cái vào lưng T5. T cầm ống tuýp kim loại mang theo đánh vào chân trái của T5 01 cái. T3 nhặt 02 tấm gạch màu xanh, ngang khoảng 06cm, dài khoảng 20cm, cầm ở tay phải đánh T5 trúng vai phải 01 cái và vùng đầu bên trái 01 cái, 02 tấm gạch gãy làm đôi. N2 nhặt 02 viên gạch ống cầm ở hai tay, đứng cách chỗ T5 bị T2 đè khoảng 01m, ném viên gạch cầm ở tay phải trúng vào đầu T5, viên gạch ở tay trái N2 ném bỏ, tiếp tục dùng tay phải đánh vào lưng của T5 01 cái. Hân xông vào can ngăn không cho nhóm của T đánh T5, thì N2 nhặt 01 viên gạch ống, đứng cách T5 khoảng 02m, ném trúng vào vai của T5. Lúc này, T4 điều khiển xe mô tô biển số 67E1-019.90 đi ngang, thấy T2 đang đè đánh T5, T4 dừng xe, xông vào tiếp T2. T4 nhặt 01 khúc gỗ dài khoảng 60cm đánh T5 02 cái trúng lưng và dùng chân phải đá vào chân trái của T5 01 cái. Mọi người can ngăn, nhóm của T đi về; T5 được đưa đến Bệnh viện, trình báo Cơ quan Công an, T5 có đơn yêu cầu khởi tố.
Vật chứng thu giữ:
- 01 đoạn gỗ, kích thước (101,5 × 05 × 2,5)cm, một đầu có 01 cây đinh bằng kim loại, dài 03 cm;
- 01 đoạn gỗ, kích thước (97 × 09 × 2,5)cm, phần thân có 02 cây đinh bằng kim loại, dài lần lượt 03cm, cách nhau 54cm;
- 01 mảnh gạch (loại gạch ống 04 lỗ), kích thước (07 × 05 × 6,5)cm, có nhiều vết màu nâu (nghi máu, do Lê Thị Ngọc H4 giao nộp);
- 01 mũ bảo hiểm, màu xám; 01 thanh sắt tròn, kích thước (103 × 03) cm, loại ống sắt tròn, màu trắng, có quấn băng keo màu đen;
- 01 áo thun tay ngắn, cổ tròn, màu đen; 01 quần thun, màu đen (do Nguyễn Chí T giao nộp);
- 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần thun ngắn, màu xanh có sọc xuôi hai bên màu trắng (do Nguyễn Văn N2 giao nộp);
- 01 áo sơ mi tay dài, sọc caro, màu đỏ – trắng – đen; 01 quần sọt Jean, màu xanh (do Huỳnh Tấn T3 giao nộp);
- 01 áo sơ mi sọc caro màu trắng – đen, trước ngực tái có logo D&G; 01 quần jean lửng màu xám; 01 áo thun màu đỏ cổ, cổ hai tay có viền, trước ngực bên trái có logo (do Võ Kiến T2 giao nộp).
Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích, số 584/22/TgT, ngày 27/10/2022 của Trung tâm pháp y – Sở Y đối với Nguyễn Hoàng T5, kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- - 02 sẹo thái dương phải: Vết 01: kích thước (2.4 × 0.3)cm, hướng hơi xiên, màu hồng, phẳng, bờ không sắc: tỷ lệ 01% (do vật tày có cạnh gây nên). Vết 02: kích thước (01 × 0.2) cm, hướng hơi xiên, màu hồng, phẳng, bờ không sắc: tỷ lệ 01% (do vật tày có cạnh gây nên).
- - Sẹo đính phải (3.5 × 0.3)cm, sẹo hơi lõm, bờ không sắc, màu hồng: tỷ lệ 02% (do vật tày có cạnh gây nên).
- - Sẹo đính trái (04 × 0.3)cm, nằm ngang, màu hồng, sẹo phẳng, bờ không sắc: tỷ lệ 02% (do vật tày có cạnh gây nên).
- - Sẹo đính trái hình chữ Y (02 × 0.2)cm + (1.2 × 0.2)cm, sẹo lõm, màu hồng, bờ không sắc: tỷ lệ 02% (do vật tày có cạnh gây nên).
- - Sẹo mặt lòng vòng ra mặt lưng đốt 3 ngón II bàn tay trái (2.5 × 0.1)cm, sẹo lõm, bờ sắc gọn: tỷ lệ 01% (do vật sắc gây nên).
- - Sây sát dạng thẳng vai phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (05 × 1.5)cm: tỷ lệ 0.5% (do vật tày có cạnh gây nên).
- - Sây sát dạng mảng lưng phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (07 × 03)cm: tỷ lệ 01% (do vật tày có cạnh gây nên).
- - Sây sát dạng mảng không liên tục mặt trước ngoài gối phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (08 × 02)cm: tỷ lệ 01% (do vật tày gây nên).
- + Sây sát dạng mảng mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (02 × 1.2)cm: tỷ lệ 0.5% (do vật tày gây nên).
- + Sây sát dạng mảng mặt trong 1/3 giữa cẳng chân trái để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (1.7 × 0.5)cm: tỷ lệ 0.5% (do vật tày gây nên).
- + Sây sát dạng mảng vai trái để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (03 × 01)cm: tỷ lệ 0.5% (do vật tày gây nên).Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%.
Ngày 08/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh bắt tạm giam đối với Võ Kiến T2, Huỳnh Tấn T3, Nguyễn Văn N2 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Chí T,, Trần Văn T4. Riêng Bùi Văn N3 (sinh ngày 07/6/2008), chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không khởi tố.
Theo Cáo trạng số 73/CT-VKSCĐ-HS ngày 07/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo Nguyễn Chí T, Võ Kiến T2, Huỳnh Tấn T3, Nguyễn Văn N2 và Trần Văn T4 tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa,
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
- Bị hại ông Nguyễn Hoàng T5, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Văn N3 và người làm chứng Lê Thị Ngọc H4 có lời khai như trong giai đoạn điều tra. Đồng thời, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo: giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Về hình phạt chính:
+ Đối với bị cáo Nguyễn Chí T: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
+ Đối với các bị cáo Võ Kiến T2, Huỳnh Tấn T3, Nguyễn Văn N2, Trần Văn T4: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; bị cáo T3, N2 mỗi bị cáo 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; bị cáo T4 từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: không; về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy những vật chứng thu giữ là công cụ, phương tiện, trang phục các bị cáo mặc, sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội do không còn giá trị sử dụng.
Đối với Bùi Văn N3 tham gia cùng các bị cáo đánh T5 nhưng do do N3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp; Đối với T5 gây sự, dùng mũ bảo hiểm đánh nhau với T, có phần lỗi của T5, Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 là phù hợp.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí T trình bày lời bào chữa: Thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, về hình phạt do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bọ luật hình sự và khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên được hưởng các chính sách khoan hồng của pháp luật nên đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát trình bày đối đáp: Theo khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì người chủ mưu, cầm đầu không cho hưởng án treo. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt như đã nêu.
- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung, trong lời nói sau cùng, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Xét, những người này đều đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt tại phiên tòa, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản
ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C lập; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định thương tích, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Các bị cáo đã có hành vi dùng ống tuýp kim loại, gạch, khúc gỗ là hung khí nguy hiểm và dùng tay, chân để đánh gây thương tích cho bị hại, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trong vụ án có đồng phạm nhưng thuộc đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, các bị cáo đều là người thực hành. Tuy nhiên, bị cáo T giữ vai trò là chủ mưu, cầm đầu, lôi kéo các bị cáo khác phạm tội, đối với bị cáo T2 giữ vai trò tích cực khi thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức hình phạt nghiêm hơn các bị cáo N2, T3, T4.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hai cũng có một phần lỗi, tự nguyện rút yêu cầu khởi tố, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đồng thời, các bị cáo đều thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo T chưa đủ 18 tuổi nên còn được áp dụng các quy định có lợi dành cho người dưới 18 tuổi phạm tội.
Do các bị cáo đều có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên được áp mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến
tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đối với bị cáo T giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu nên không được áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để cho hưởng án treo là đúng quy định pháp luật nên không chấp nhận đề nghị của người bào chữa. Buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để các bị cáo rèn luyện, cải tạo, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với các đoạn gỗ, thanh sắt, mảnh gạch, mũ bảo hiểm dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội và quần áo của các bị cáo mặc khi phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận 20.000.000 đồng do các bị cáo bồi thường không có yêu cầu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với em Bùi Văn N3 tham gia đánh nhau cùng các bị cáo do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với ông Nguyễn Hoàng T5 đánh nhau với các bị cáo, Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí T, Võ Kiến T2, Nguyễn Văn N2, Huỳnh Tấn T3 và Trần Văn T4 (T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Nguyễn Chí T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Chí T được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Võ Kiến Thiết 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Võ Kiến T2 được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 11 tháng 3 năm 2023 (ngày mười một, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Xử phạt: Nguyễn Văn N2 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn N2 được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 11 tháng 3 năm 2023 (ngày mười một, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba.)
- Xử phạt: Huỳnh Tấn T3 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Huỳnh Tấn T3 được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 17 tháng 3 năm 2023 (ngày mười bảy, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Xử phạt: Trần Văn T4 (T) 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Trần Văn T4 được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gỗ kích thước (101,5 × 05 × 2,5)cm, một đầu có 01 cây đinh bằng kim loại, dài 03 cm; 01 đoạn gỗ kích thước (97 × 09 2,5)cm, phần thân có 02 cây đinh bằng kim loại, dài lần lượt 03cm, cách nhau 54cm; 01 mảnh gạch (loại gạch ống 04 lỗ), kích thước (07 × 05 × 6,5)cm, có nhiều vết màu nâu; 01 mũ bảo hiểm, màu xám; 01 thanh sắt tròn, kích thước (103 × 03) cm, loại ống sắt tròn, màu trắng, có quấn băng keo màu đen;01 áo thun tay ngắn, cổ tròn, màu đen; 01 quần thun, màu; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần thun ngắn, màu xanh có sọc xuôi hai bên màu trắng; 01 áo sơ mi tay dài, sọc caro, màu đỏ – trắng – đen; 01 quần sọt Jean, màu xanh; 01 áo sơ mi sọc caro màu trắng – đen, trước ngực tái có logo D&G; 01 quần jean lửng màu xám; 01 áo thun màu đỏ cổ, cổ hai tay có viền, trước ngực bên trái có logo.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
4. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Đại Nam |
Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 86/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ......
