|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST
Ngày 15-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 390/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh T; nơi cư trú: Số C Đ, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Đào Anh T1; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, nơi ở hiện tại: Số A đường C, Nhân H, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Minh T trình bày:
Chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/8/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được
một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên cả hai thường xảy ra cãi vã. Đến cuối năm 2020, anh T1 sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Do khoảng cách địa lý xa xôi nên hai vợ chồng ngày càng xa cách, tình cảm dần nhạt phai. Đến nay, vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hai bên gia đình và bạn bè đã hòa giải nhưng không có kết quả. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, chị T không còn tình cảm với anh T1 nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Đào Anh Tuấn.
Về con chung: Chị T và anh T1 có hai con chung là cháu Đào Thiện N, sinh ngày 22/11/2014 và cháu Đào Minh A, sinh ngày 19/9/2019 hiện đang ở cùng với chị T. Ly hôn, chị T đề nghị giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng do anh T1 đang ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai, anh Đào Anh Tuấn trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Anh T1 và chị Nguyễn Minh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/8/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên cả hai thường xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình và bạn bè đã hòa giải nhưng không có kết quả. Đến cuối năm 2020, anh T1 sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Do khoảng cách địa lý xa xôi nên hai vợ chồng ngày càng xa cách, dần ít liên lạc, tình cảm dần nhạt phai. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay, hiện không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, anh T1 không còn tình cảm với chị T nên anh T1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T1 được ly hôn với chị Nguyễn Minh T.
Về con chung: Anh T1 và chị T có có hai con chung là cháu Đào Thiện N, sinh ngày 22/11/2014 và cháu Đào Minh A, sinh ngày 19/9/2019 hiện đang ở cùng chị T. Ly hôn, anh T1 đề nghị giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng do anh T1 đang ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Đào Anh Tuấn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn xin vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Minh T được ly hôn anh Đào Anh Tuấn. Về con chung, đề nghị giao hai con chung là cháu Đào Thiện N, sinh ngày 22/11/2014 và cháu Đào Minh A, sinh ngày 19/9/2019 cho chị Nguyễn Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Minh T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Đào Anh Tuấn nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Nguyên đơn là chị Nguyễn Minh T có nơi cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh Đào Anh Tuấn hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/8/2014. Theo quy định tại Điều 9, Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và bị đơn, nhận thấy: Quá trình chung sống, chị T và anh T1 phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên cả hai thường xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình và bạn bè đã hòa giải nhưng không có kết quả. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, đã ly thân và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn với nhau. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không tồn tại nên cần áp dụng Điều 51, khoản 1
Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Minh T đối với anh Đào Anh Tuấn.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn có hai con chung là cháu Đào Thiện N, sinh ngày 22/11/2014 và cháu Đào Minh A, sinh ngày 19/9/2019. Ly hôn, chị T và anh T1 cùng đề nghị giao hai con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy anh T1 hiện đang ở nước ngoài, hai con chung hiện đang ở với chị T, chị T vẫn đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dạy con; con chung Đào Thiện N có nguyện vọng được ở với chị T trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Do đó, yêu cầu giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị T và anh T1 về việc tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Minh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Minh T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Minh T được ly hôn anh Đào Anh Tuấn.
1.2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Đào Thiện N, sinh ngày 22/11/2014 và cháu Đào Minh A, sinh ngày 19/9/2019 cho chị Nguyễn Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Minh T và anh
Đào Anh Tuấn về việc tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
1.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Minh T và anh Đào Anh Tuấn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000122 ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Minh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Anh Đào Anh T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phích |
Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
