Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN DU

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HSST

Ngày 15/04/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Thắng
  2. Ông Nguyễn Hữu Xuyên

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hoà, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 01/4/2024, đối với bị cáo:

Nông Ngọc T, sinh năm 1997

Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Phai Rọ - L, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nông Văn H, sinh năm 1968 và bà Vi Thị Đ, sinh năm 1977; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Đoạn Thị T1, sinh năm 2000, Con: 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B

Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ phụ trách tin học của Toà án nhân dân huyện Tiên Du và của Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nông Ngọc T, sinh năm 1997 có hộ khẩu thường trú (HKTT): Bản Phai R - Lùng Mán, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, hiện trọ tại khu T, phường K, TP B, tỉnh Bắc Ninh, T là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.

Buổi sáng ngày 23/12/2023, T đang ở phòng trọ tại Khu T, phường K, TP B thì nam thanh niên tên T2 (là bạn của T mới quen) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng không rõ biển số chở một nam thanh niên khác khoảng 25 tuổi (Trai không rõ tên tuổi địa chỉ) đến rủ T đi cùng mua ma tuý để sử dụng, T đồng ý. T2 điều khiển xe chở T và bạn của T2 đi theo hướng ra Q 38 hướng về xã L, huyện T. Trên đường đi T2 đưa cho T số tiền 200.000đ để mua ma tuý. Khi đến khu vực cây xăng xã L thì T2 dừng xe lại. Tại đây nam thanh niên là bạn của T2 gọi điện cho ai đó đặt vấn đề mua 200.000 đồng ma tuý. Khoảng 10 phút sau thì có một người nam thanh niên khoảng 30 tuổi đi bộ ra khu vực gần cây xăng, lúc này T2 bảo T đi ra vị trí người nam thanh niên bán ma tuý để mua ma tuý, T đi bộ ra vị trí người này. Khi đó nam thanh niên này có đưa cho T một gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), T biết đây là ma tuý nên đưa số tiền 200.000đ cho nam thanh niên này. Sau đó, T cất giấu gói ma tuý vừa mua được vào túi áo khoác bên trái đang mặc của T đồng thời đi ra vị trí T2 và nam thanh niên (bạn T2) đang đứng đợi. T2 điều khiển xe mô tô chở T và nam thanh niên bạn T2 đi tìm nơi sử dụng ma tuý. Khoảng 13 giờ 15 phút, khi đến khu vực trước cửa siêu thị D ở thôn H, xã L, huyện T thì dừng lại. Cùng lúc này lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an xã L đến kiểm tra, T2 và người thanh niên bạn của T2 phóng xe bỏ chạy còn T bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi áo khoác bên trái đang mặc 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng (dạng cục), T khai nhận đây là số ma túy vừa mua chưa kịp sử dụng. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong gói ma túy theo quy định.

Cơ quan Công an đã tiến hành đưa T và toàn bộ vật chứng cùng những người chứng kiến về trụ sở Công an xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu của T. Tại bản Kết luận giám định số: 152a/TKLGĐMT-PC09 ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng (dạng cục) bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 0,1123 gam là ma túy, loại ma túy: Heroin.

Vật chứng liên quan đến vụ án:

Mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,0859 gam ma túy Heroin được niêm phong trong phong bì thư theo quy định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nông Ngọc T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSTD ngày 20/3/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nông Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo nhận tội và khai nhận: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 23/12/2023, tại khu vực trước cửa siêu thị D thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện T phối hợp với Công an xã L đã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nông Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1123 gam ma túy Heroin với mục đích để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS, xử phạt Nông Ngọc T từ 14 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký Giám định viên phòng PC09 - Công an tỉnh B.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 23/12/2023, tại khu vực trước cửa siêu thị D thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện T phối hợp với Công an xã L đã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nông Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1123 gam ma túy Heroin với mục đích để sử dụng. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma túy cũng là nguyên nhân của các tội phạm hình sự khác. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cũng xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Số ma tuýcòn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký Giám định viên phòng K, Công an tỉnh B.

[6] Liên quan trong vụ án:

Đối với người thanh niên tên T2 và người thanh niên bạn của thắng chở T đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho Trai ngày 23/12/2023, do T không quen biết, không biết tên tuổi địa chỉ của những người này nên cơ quan CSĐT chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Khi bị bắt quả tang, cơ quan Công an huyện T đã kiểm tra xác định T có kết quả dương tính với ma túy Heroin. Trai khai nhận trước đó ngày 22/12/2023 đã sử dụng ma túy tuy nhiên không biết địa điểm cụ thể nơi sử dụng là ở đâu, do đó chưa xác định được thẩm quyền xử lý. Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Nông Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử phạt Nông Ngọc T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

    Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký Giám định viên phòng K, Công an tỉnh B.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKS, CA, THADS huyện Tiên Du;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BN;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Anh Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HSST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 86/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tang tru trai phep chat ma tuy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger