Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/DS-ST

Ngày: 14-8-2023

V/v TrA1 chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DÂN

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lộc

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T. Địa chỉ: phường B, quận C, thành phố Hồ chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân Hàng TMCP T.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng G – Nhân viên kinh doanh Ngân hàng TMCP T– Chi nhánh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1992 (có mặt)

Bà Lai Kiều A1, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lý Thị H, sinh năm 1969 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Tấn Đ (vắng mặt)
  3. Bà Trần Thị N (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2022 (BL01-02) của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Hồng G là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 07/04/2021, ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần T - Chi nhánh Sóc Trăng vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn nuôi tôm. Thời hạn vay: 12 tháng. Lãi suất cho vay: 11,0%/năm, Phương thức trả nợ lãi: hàng tháng. Trả nợ gốc vào ngày 08/4/2022.

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp số 1335/HĐBĐ-2021 ngày 07/04/2021, để thế chấp tài sản do ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 đứng tên và quản lý sử dụng, như sau: Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 513, tờ bản đồ số 8, diện tích 835,0m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 604814 (Vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 0141 QSDĐ/8191305) do UBND Huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng) cấp ngày 06/08/2002. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân, ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 đã nhận đủ số tiền vay theo Giấy nhận nợ số 01-2313/2021 ngày 08/04/2021. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi là 57.109.587 đồng và tiền gốc 29.000.000 đồng, từ ngày 22/04/2022 đến nay thì không trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng theo kế hoạch trả nợ đã cam kết. Tính đến ngày 14/8/2023 ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 còn nợ Ngân hàng số tiền 575.866.853 đồng. Trong đó nợ gốc 471.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 68.977.168 đồng, nợ lãi quá hạn 35.889.685 đồng.

Nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử (ngày 14/8/2023) là 575.866.853 đồng (năm trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc 471.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 68.977.168 đồng, nợ lãi quá hạn 35.889.685 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 15/8/2023 đến khi trả hết nợ vay. Trường hợp ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Tấn C tại phiên tòa: Ông C thừa nhận vợ chồng ông có vay tiền của Ngân hàng và chưa có thanh toán nợ cho Ngân hàng là đúng như Ngân hàng đã khởi kiện, tuy nhiên do ông C đang gặp khó khăn về kinh tế nên mới chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng được, nên yêu cầu Ngân hàng tạo điều kiện cho ông trả mỗi tháng 12.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

Bị đơn bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N đều vắng mặt tại tất cả các buổi giải quyết của Tòa án nên không có ý kiến trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N biết và Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, sau đó đã thông báo cho bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N vắng mặt biết kết quả phiên họp. Đồng thời, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn C chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành của bị đơn Lai Kiều A1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đúng pháp luật, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn cùng liên đới thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn với số tiền 575.866.853 đồng (năm trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc 471.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 68.977.168 đồng, nợ lãi quá hạn 35.889.685 đồng và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ngày 15/8/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp các bị đơn không thực hiện hoặc không thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ. Quyết định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho bị đơn bà Lai Kiều A1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Lai Kiều A1, bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N theo quy định pháp luật.

  2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần T có ký Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021 với bên vay ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1, mục đích vay để bổ sung vốn nuôi tôm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông C và bà A1 trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C và bà A1 có nghĩa vụ thực hiện trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn, Ngân hàng Thương mại Cổ phần T với bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

  4. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T về việc yêu cầu bị đơn trả tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/8/2023). Tổng cộng là 575.866.853 đồng (năm trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc 471.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 68.977.168 đồng, nợ lãi quá hạn 35.889.685 đồng.

    1. Xét Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021 Hội đồng xét xử thấy: Theo Hợp đồng tín dụng đã ký ngày 07/4/2021 và giấy nhận nợ đề ngày 08/4/2021 ông C và bà A1 nhận tiền vay của Ngân hàng là 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 11%/năm và lãi suất quá hạn là 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn. Ngân hàng nhiều lần đôn đốc ông C và bà A1 thực hiện trả nợ gốc và lãi, nhưng ông C và bà A1 vẫn không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và khoản nợ vay này đã chuyển sang nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các đương sự, các đương sự thừa nhận không ai phản đối tình tiết đã giao kết Hợp đồng, cũng không có ý kiến về việc bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép nên Hợp đồng đã ký là hoàn toàn tự nguyện; mục đích sử dụng tiền vay để bổ sung vốn nuôi tôm là không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp đồng còn có chứa đựng đầy đủ các điều kiện cơ bản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức trả nợ, phương thức tính lãi, biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

    2. Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021 có lãi suất thỏa thuận 11%/năm đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C và bà A1 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị Ngân hàng xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C và bà A1 phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.

    3. Xét Hợp đồng thế chấp tài số 1335/HĐBĐ-2021 ngày 07/04/2021 Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ ông C và bà A1 đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V604814 diện tích 835,0m² thuộc thửa đất số 513, tờ bản đồ số 08; đất tọa lạc tại ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng đã chỉnh lý sang tên cho ông Nguyễn Tấn C đứng tên quyền sử dụng đất. Các bên tham gia có đủ điều kiện về chủ thể, hoàn toàn tự nguyện, mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức, xã hội và có đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng. Nếu ông C và bà A1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là đúng theo quy định tại Điều 8 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 1335/HĐBĐ-2021 ngày 07/04/2021 mà các bên đã ký kết.

      Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/5/2023 (BL54-55) quyền sử dụng đất được các đương sự thế chấp cho Ngân hàng, có đặc điểm sau:

      • Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số số V604814 diện tích 835,0m² thuộc thửa đất số 513, tờ bản đồ số 08; đất tọa lạc tại ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Tài sản trên đất gồm: Căn nhà thứ nhất của ông Nguyễn Tấn C có diện tích chiều ngang 5,2m, chiều dài 16m. Kết cấu nhà tường, vách tường, mái lợp tôn kẽm, cửa sắt; Mái che bên hong chiều ngang 3,4m, chiều dài 16m. Kết cấu nền tráng xi măng, mái tôn xi măng, đòn tay cây, vách tôn thiết, cột, kèo cây; Mái che phía trước ngang 5,2m, chiều dài 5,1m. Kết cấu tôn kẽm, đòn tay kẽm, nền tráng xi măng. Căn nhà thứ hai của ông Nguyễn Tấn Đ quản lý có diện tích chiều ngang 5m, chiều dài 16,6m. Kết cấu nhà tường, vách tường, mái lợp tôn kẽm, đòn tay kẽm, cửa sắt; Phần bên hong là nhà vệ sinh chiều ngang 1,7m, chiều dài 6,4m kết cấu xây tường; Sân phía trước chiều ngang 6,8m, chiều dài 6,4m kết cấu nền tráng xi măng có xây tường cao 01m. Cây trồng trên đất gồm: 01 cây mãng cầu ta loại B, 03 cây xoài loại B, 01 cây mận loại A, 05 cây dừa loại A, 04 cây dừa loại B, 01 cây me loại B, 26 cây chuối.
    4. Đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn C yêu cầu Ngân hàng tạo điều kiện cho ông C mỗi tháng trả 12.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý vấn đề này sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

    5. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được biết về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng các đương sự không có ý kiến và không ai có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

    6. Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    7. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 15/8/2023) bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

    8. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 phải cùng liên đới chịu.

      Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần T đã tạm ứng trước nên ông C và bà A1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền nêu trên cho Ngân hàng.

    9. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông C và bà A1 có nghĩa vụ liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Vì các lẽ trên;

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Căn cứ vào Điều 325; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Căn cứ vào Điều 7; khoản 2 Điều 8; Điều 10; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên xử:

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

      Buộc bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 cùng liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/8/2023) bao gồm các khoản sau:

      • Nợ gốc 471.000.000 đồng;
      • Nợ lãi trong hạn: 68.977.168 đồng
      • Nợ lãi quá hạn 35.889.685 đồng.

      Tổng cộng 575.866.853 đồng (năm trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi ba đồng).

    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 15/8/2023), bị đơn ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 còn phải liên đới tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2313/2021/HĐTDTL-CN ngày 07/04/2021 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

    3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng Thương mại Cổ phần T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Tấn C và và Lai Kiều A1 không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thị xã VC phát mãi tài sản thế chấp, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1335/HĐBĐ-2021 ngày 07/04/2021 đã ký để Ngân hàng thu hồi nợ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị N phải có nghĩa vụ bàn giao tài sản để phát mãi.

    4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) ông Nguyễn Tấn C và và Lai Kiều A1 phải cùng liên đới chịu. Ngân Hàng Thương mại Cổ phần T đã tạm ứng trước nên ông C và bà A1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền nêu trên lại cho Ngân hàng.

    5. Về án phí sơ thẩm:

      - Ông Nguyễn Tấn C và bà Lai Kiều A1 cùng liên đới chịu 27.034.674 đồng (hai mươi bảy triệu không trăm ba mươi bốn nghìn sáu trăm bảy mươi bốn đồng).

      - Ngân hàng Thương mại Cổ phần T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.406.983 đồng (mười hai triệu bốn trăm lẻ sáu nghìn chín trăm tám mươi ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007890 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

    6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

      Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi Hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hành án, quyền yêu cầu thi Hành án, tự nguyện thi Hành án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi Hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi Hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

    Nơi nhận:

    • - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA);
    • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
    • - Đương sự;
    • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
    • - Lưu HSVA.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    (đã ký)

    Dương Chiêu Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2023/DS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 86/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger