|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP. HÀ NỘI ******** |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ======o0o======= |
Bản án số: 86/2024/HSST
Ngày: 12/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quang K
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đắc H
Nghề nghiệp: Giáo viên
Ông Nguyễn Tiến D
Nghề nghiệp: Công chức
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh  - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà: Ông Đàm Duy T - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm số 88/HSST/2024 ngày 2/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/QĐXXST-HS ngày 2 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
1, PHẠM VĂN L2, sinh 1963. Tại Hà Nội.
Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện M, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị N; Vợ: Kiều Thị T1, có 02 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 72 ngày 16/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt bị cáo 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, bản án số 09 ngày 20/2/2003 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt bị cáo 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bản án số 119 ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt từ ngày 3/5/2024, có mặt tại phiên tòa.
2, NGUYỄN VĂN Đ1, sinh 1968. Tại Hà Nội.
Nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện M, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Lưu Thị P; Vợ: Nguyễn Thị C, có 02 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 103 ngày 13/11/1998 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt bị cáo 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích, bản án số 52 ngày 15/7/2003 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị bắt từ ngày 3/5/2024, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 35' ngày 02/5/2024 tại thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội; Tổ Công tác Công an xã L kiểm tra hành chính phát hiện và bắt quả tang Phạm Văn L2 đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn Đ1. Tổ công tác đã đưa L2 và Đ1 cùng tang vật về trụ sở để làm việc và lập biên bản quả tang. Quá trình bắt quả tang, tạm giữ Phạm Văn L2 và Nguyễn Văn Đ1 khai nhận:
Khoảng 07h30' ngày 02/5/2024, Phạm Văn L2 một mình đi bộ và đi nhờ xe người đi đường đi từ nhà đến khu vực thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy. Tại đây, L2 gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, L2 đi nhờ xe người đi đường về. Khi về đến nhà ở thôn B, xã L, L lấy một ít ma túy ra để sử dụng, số ma túy còn lại, L2 chia ra làm hai gói nhỏ, gói bằng giấy cho vào túi ni lông màu trắng và cất giấu ở tủ chè của gia đình. Đến khoảng 18h00' cùng ngày, L2 nhận được điện thoại từ số 0344.360.xxx của Nguyễn Văn Đ1 gọi vào số 0385267227 của L2 hỏi mua 01 gói ma túy heroin với giá 200.000đ. Lãnh đồng ý và hẹn Đ1 tới khu vực Đình làng thôn B, xã L để giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Sau đó, L2 lấy 01 gói ma túy heroin đi ra điểm hẹn đợi. Đông từ nhà ở thôn K, xã V, huyện M đi nhờ xe người đi đường đến điểm hẹn. Tại điểm hẹn, Đ1 đưa cho L2 số tiền 200.000đ, L2 cầm và cất tiền vào túi quần sau bên phải rồi đưa cho Đ1 01 gói ma túy heroin. Đúng lúc này tổ công tác công an xã L, huyện M phát hiện bắt quả tang Phạm Văn L2 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn Đ1.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn L2 tại thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội, thu giữ được: 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (2x5)cm, bên trong có 01 gói giấy, bên trong gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Lãnh khai nhận số ma túy trên dùng để bán kiếm lời khi có người hỏi mua.
Tại Kết luận giám định số 3277/KL-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
- - Niêm phong ký hiệu A1 thu giữ của Nguyễn Văn Đ1 có:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,280 gam.
- - Niêm phong ký hiệu A2 thu giữ của Phạm Văn L2 có:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,154 gam.
Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Phạm Văn Lãnh theo khoản 1 Điều 251 và truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn L2 và Nguyễn Văn Đ1 đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L duy trì quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Căn cứ (điểm c khoản 1 Điều 249 đối với Đông), (khoản 1 Điều 251 đối với Lãnh) Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015. Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của Ủy ban thượng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Xử phạt bị cáo Đông từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Xử phạt bị cáo Lãnh từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì có chứa Ma túy. Tịch thu sung quỹ 02 điện thoại di động thu giữ của L2, Đ1.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Văn L2 và Nguyễn Văn Đ1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L đã truy tố. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời khai của bị cáo, người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thẩm tra công khai tại phiên toà hôm nay, có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích mua ma túy về vừa để sử dụng vừa bán cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Khoảng 07h30' ngày 02/5/2024, Phạm Văn L2 một mình đi bộ và đi nhờ xe người đi đường đi từ nhà đến khu vực thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy. Tại đây, L2 gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, L2 đi nhờ xe người đi đường về. Khi về đến nhà ở thôn B, xã L, L lấy một ít ma túy ra để sử dụng, số ma túy còn lại, L2 chia ra làm hai gói nhỏ, gói bằng giấy cho vào túi ni lông màu trắng và cất giấu ở tủ chè của gia đình. Đến khoảng 18h00' cùng ngày, L2 nhận được điện thoại của Nguyễn Văn Đ1 hỏi mua 01 gói ma túy heroin với giá 200.000đ. Lãnh đồng ý và hẹn Đ1 tới khu vực Đình làng thôn B, xã L để giao ma túy. Sau đó, L2 lấy 01 gói ma túy heroin đi ra điểm hẹn. Đông từ nhà đi đến điểm hẹn. Tại đây, Đ1 đưa cho L2 số tiền 200.000đ, L2 cầm và cất tiền vào túi quần sau bên phải rồi đưa cho Đ1 01 gói ma túy heroin thì bị tổ công tác công an xã L, huyện M phát hiện bắt quả tang.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn L2 tại thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội, thu giữ được: 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (2x5)cm, bên trong có 01 gói giấy, bên trong gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Lãnh khai nhận số ma túy trên dùng để bán kiếm lời khi có người hỏi mua.
Tại Kết luận giám định số 3277/KL-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
- - Niêm phong ký hiệu A1 thu giữ của Nguyễn Văn Đ1 có:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,280 gam.
- - Niêm phong ký hiệu A2 thu giữ của Phạm Văn L2 có:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,154 gam.
Hành vi bán ma túy của bị cáo L2 cho bị cáo Đ1 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo L2 theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Hành vi mua ma túy về để sử dụng của bị cáo Đ1 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo Đ1 theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội, đồng thời làm cho tệ nạn xã hội gia tăng, là nguyên nhân phát sinh những hành vi vi phạm pháp luật khác và làm cho tình hình xã hội thêm phức tạp. Vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo là rất cần thiết để giáo dục, cải tạo các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân, tính đến lần thực hiện hành vi phạm tội này bị cáo Lãnh có 03 tiền án, bị cáo Đ1 có 02 tiền án. Mặc dù tiền án của các bị cáo đều đã được xóa nhưng thể hiện nhân thân xấu.
Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Tuy nhiên quá trình điều tra cơ quan công an xác định bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma tuý cho Phạm Văn L2 tại thành phố V, Vĩnh Phúc ngày 02/5/2024: quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra có thu giữ của các bị cáo 02 phong bì có chứa ma túy. Trong đó quá trình giám định, Cơ quan giám định thu tại phong bì ký hiệu A1: 0,048 gam ma túy loại Heroine làm mẫu giám định; phần còn lại 0,232 gam. Tại phong bì ký hiệu A2: 0,024 gam ma túy loại Heroine làm mẫu giám định; phần còn lại 0,130 gam ma túy loại Heroine, đây là vật cấm lưu hành trái phép, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của L2 và Đ1 là tài sản các bị cáo sử dụng để phạm tội, nên tịch thu sung quỹ. Đối với 200.000đ L2 nhận từ Đ1 là tiền thu lời bất chính, nên tịch thu sung quỹ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ1 18 (mười tám) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 03/5/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Phạm Văn L2 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 03/5/2024.
Điều 106, 135, 326, 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,232g Ma túy loại Hêroin và 01phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,130g Ma túy loại Hêroin có chữ ký của Phạm Văn L2 và Nguyễn Văn Đ1 cùng giám định viên Lê Khắc N1; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Vietell màu đỏ đen, 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 95 ngày 8/8/2024 giữa Công an huyện Mê L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê L; tịch thu sung quỹ 200.000đ theo ủy nhiệm chi số 47 ngày 8/8/2024 của Công an huyện M.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Quang K |
Bản án số 86/2024/HSST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 86/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn L bị xét xử về tội: "mua bán trái phép chất ma túy"
