TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 86/2024/HS-ST Ngày: 10 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Đê.
2. Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, đối với:
Các bị cáo:
1. Đinh Văn B, sinh năm 1990 tại tỉnh Đắk Nông. HKTT và nơi ở: khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đinh Văn T, mẹ: Đinh Thị S; Vợ: Vũ Thị Hồng N1 và có 01 người con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
2. Lê Quốc T1, sinh năm 1989 tại tỉnh Hậu Giang. HKTT và nơi ở: khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Hữu T2, mẹ: Ngô Thị Kim V; Vợ: Nguyễn Thị H và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Bị hại: Hoàng Trọng H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 23/11/2023, Đinh Văn B, Lê Quốc T1 và 02 người bạn ngồi ở khu vực vỉa hè trước cửa quán “Hàu 7k” thuộc khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Lúc này, ở bàn kế bên có Hoàng Trọng H1 đang ngồi nhậu cùng với Hoàng Thị Kim T3 (em gái H1) và một số người bạn (không rõ lai lịch). Do B quen biết với H1, T3 từ trước nên trong lúc nhậu hai bàn có đi qua lại chúc bia nhau. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, tại một bàn nhậu khác phía bên trong quán xảy ra xô xát nên bàn của B đứng dậy hết, riêng B và T1 chạy đến can ngăn. T3 thấy vậy lấy xe mô tô điều khiển đi đến Công an phường K để trình báo. Lúc này, B để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen ở trên bàn. H1 thấy bàn B ngồi có để chiếc điện thoại hiệu Iphone nhưng không có người trông coi. H1 đứng đợi một lúc, không thấy ai quay lại lấy nên đã cầm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần sau đó điều khiển xe đi. Khoảng 05 phút sau, sau khi can ngăn xong vụ xô xát, B và T1 quay lại bàn thì phát hiện bị mất chiếc điện thoại và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng để ở bàn, dùng điện thoại đè lên.
Thời điểm này, chị Vũ Thị Hồng N1 (vợ B) gọi điện cho B để về chở người nhà đi bệnh viện nhưng không gọi được nên đi bộ ra quán tìm. Khi ra tới nơi, B nói N1 lấy điện thoại kiểm tra định vị chiếc điện thoại bị mất thì phát hiện điện thoại đang di chuyển ở khu vực gần lò thiêu Bà Rịa. B điều khiển xe mô tô chở vợ, T1 đi xe mô tô cùng nhau đi theo định vị đến khu vực Trung tâm thương mại B1. Khi đến trung tâm thương mại thì điện thoại của N1 bị hết pin không thể định vị được. N1 ghé vào tiệm điện thoại trên đường H thuộc phường P, thành phố B do anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 2004, địa chỉ: P, L, Đồng Nai làm chủ để cắm nhờ sạc. Qua nói chuyện, anh Tuấn A cho biết trước đó khoảng 2 đến 3 phút, có một người đàn ông tầm khoảng 50 tuổi, tóc dài đến quán hỏi mua ốp điện thoại và mượn dụng cụ tháo sim chiếc điện thoại hiệu Iphone 11 màu đen. Nghi ngờ H1 là người lấy điện thoại nên T1 điều khiển xe chở B đi tìm. Khi đi đến khi vực giao lộ đường H với Quốc lộ E thuộc khu phố B, phường P, thành phố B thì thấy H1 đang điều khiển xe mô tô đi từ đường H ra Quốc lộ E. T1 điều khiển xe chặn đầu xe của H1. T1 hỏi “Điện thoại đâu rồi” nhưng H1 không nói gì mà tiếp tục bỏ đi. T1 chạy đến, dùng chân đạp vào xe của H1 và dùng tay tát vào mặt H1 nhiều cái làm H1 té ngã từ trên xe xuống đường và rơi 02 chiếc điện thoại trong túi áo xuống đất. B nhặt chiếc điện thoại lên, xem màn hình thì xác định đúng là điện thoại của mình. Sau đó, B và T1 tiếp tục dùng tay, chân đánh H1 một lúc rồi bỏ đi. B quay lại tiệm điện thoại đón vợ còn T1 điều khiển xe bỏ đi. Hậu quả, H1 bị thương phải vào Bệnh viện B2 cấp cứu, tình trạng thương tích vỡ lách phải phẫu thuật cắt bỏ lách.
Tại Bản kết luận giám định số 09/KLTTCT-PYBRVT ngày 08/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với thương tích của Hoàng Trọng H1 kết luận:
1. Các kết quả chính:
- - Kết quả khám giám định: 01 sẹo trung bình; 01 sẹo nhỏ; Chấn thương vỡ lách, đã phẫu thuật cắt lách.
- Kết quả cận lâm sang: Hiện không thấy lách trên siêu âm.
2. Kết luận:
Căn cứ thông tư 22/2019/TT_BYT ngày 28/8/2019 của bộ Y quy định tỷ lệ phần tram tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Trọng H1 tại thời điểm giám định là 35% (ba mươi lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Về vật gây thương tích, cơ chế hình thành vết thương, chiều hướng tác động: Thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật rắn tầy, lực tác động rất mạnh theo cơ chế va đập; khả năng tác động trực tiếp vào vùng hông trái hoặc vùng hạ sườn trái; không rõ chiều hướng”
Tại cơ quan điều tra Đinh Văn B và Lê Quốc T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, khi T1 ròi khỏi bàn nhậu có để 200.000 đồng ở bàn để trả tiền nhậu nhưng khi quay lại cũng bị mất số tiền này.
Hoàng Trọng H1 khai do có quen biết với B nên khi thấy bàn của B bỏ đi can ngăn vụ xô xát, để điện thoại trên bàn, B đợi một lúc không thấy ai quay lại nên nghĩ bỏ quên. H1 cầm về dự định sẽ tháo sim lắp qua điện thoại của mình để liên lạc trả lại nhưng trên đường đi thì bị B và T1 chặn đánh. Đối với số tiền 200.000 đồng, H1 không biết và không lấy. Qua đối chất, H1 không thừa nhận việc lấy số tiền này.
- Việc thu giữ và xử lý vật chứng: 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ án..
- Trách nhiệm dân sự: Cả hai bị cáo đã bồi thường cho ông H1 số tiền 130.000.000 đồng. Ông H1 có đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 87/CT-VKSBR ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo Đinh Văn B và Lê Quốc T1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đã gây thương tích cho bị hại, do bức xúc không kiềm chế được việc bị hại từ chối lấy điện thoại nên mới đánh mục đích để anh H1 trả điện thoại, không nghĩ và không mong muốn hậu quả đến như vậy; xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện đi làm nuôi gia đình vì hiện nay có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo B vợ mới sinh con, có cha là người có công cách mạng, cả cha mẹ hiện đang điều trị bệnh nan y; Bị cáo T1 hiện phải đi làm nuôi vợ bị bệnh mới mổ khối u và 3 con còn nhỏ đang đi học.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đinh Văn B và Lê Quốc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
+ Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo B và T1, mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
+ Xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 DVD lưu lại hình ảnh vụ án.
+ Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại khu vực giao nhau giữa đường H với Quốc lộ E, thuộc khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do bức xúc việc ông Hoàng Trọng H1 lấy chiếc điện thoại di động nên B và Lê Quốc T1 có hành vi chặn xe mô tô của ông H1 rồi dùng tay, chân đánh làm cho ông H1 đang ngồi trên xe mô tô ngã xuống đường gây thương tích. Tỷ lệ tổn thương có thể do thương tích gây ra là 35% (Ba mươi lăm phần trăm). Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của Đinh Văn B và Lê Quốc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của cácbị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác và làm mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho các bị cáo; trong vụ án này, bị hại cũng có 1 phần lỗi lấy điện thoại của bị cáo B nên căn cứ điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Xét thấy, do bị hại có một phần lỗi dẫn đến các bị cáo nhất thời phạm tội; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; Bị cáo B hiện phải nuôi vợ và con mới sinh, bản thân là quân nhân xuất ngũ tham gia nhiều hoạt động tại địa phương được tặng nhiều giấy khen của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố B, cha là người có công cách mạng được tặng nhiều giấy khen, hiện cha, mẹ đều đang điều trị bệnh nặng. Bị cáo T1 nuôi vợ bệnh bị mổ khối u không đi làm được và 03 con còn nhỏ đang đi học. Xét thấy, không cần phải cách ly các bị cáo mà xử phạt tù cho các bị cáo hưởng án treo giao về chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục và tạo điều kiện cho các bị cáo đi làm chăm sóc gia đình, giảm bớt khó khăn, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và nhân đạo của nhà nước.
[6] Xử lý vật chứng: 01 DVD ghi lại hình ảnh vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn B và Lê Quốc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Đinh Văn B 02 (Hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án 10/7/2024.
Xử phạt: Lê Quốc T1 02 (H2) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án 10/7/2024.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo Lê Quốc T1 và gia đình bị cáo Đinh Văn B có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 DVD ghi lại hình ảnh vụ án.
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu thêm nên không xem xét.
- Án phí: Các bị cáo Đinh Văn B và Lê Quốc T1 mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/7/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn B (02 bc) - Cố ý gây thương tích
