|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/DS-PT Ngày: 07-6-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thọ
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 67/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 09/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Thông báo dời ngày xét xử số 19/TB-TA ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phan Tấn L – Văn phòng L3 thuộc đoàn luật sư T4; địa chỉ: C phường A, quận N, TP Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị N1
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Như Đình V – Văn phòng L4 thuộc đoàn luật sư T4; địa chỉ: số A đường N, khu V, phường A, quận N, TP Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc B
- Bà Nguyễn Thị Liễu H
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H1
- Bà Nguyễn Thị Cẩm L1
- Bà Nguyễn Thị Kim C
Người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà H, bà H1, bà L1, bà C: Bà Nguyễn Thị N
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bà Nguyễn Thị Bé T
- Bà Nguyễn Thị Bé N2
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T1
- Ông Nguyễn Thành Đ
- Ông Nguyễn Thành V1
Người đại diện theo ủy quyền bà N2, bà T1, ông Đ, ông V1: Bà Nguyễn Thị Bé T
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:
Vào năm 2010 thì cha là Nguyễn Văn B1 (chết năm 2021) có cho bà phần đất diện tích khoảng 2000m², canh tác đến nay. Trồng dừa, cau, tre... trên đất có mộ của các em bà, và chồng bà tổng cộng là 05 mộ trong đó mộ của chồng bà là ông Trương Văn Đ1 chôn năm 2010 nhưng không ai phản đối, phần đất này hiện nay nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T2 (chồng của bà N1) bà N cho rằng do ông T2 đăng ký nhầm phần đất của bà được cha mẹ cho là phần tranh chấp hiện nay. Tức là cho ông T2 phần đất thửa 760 theo giấy chứng nhận hiện nay và phần diện tích nhà ông T2 đang sử dụng. Còn phần tranh chấp là của bà nhưng ông T2 đăng ký mới bà không hay biết, sau này mới biết. Nên lúc đó có yêu cầu ông T2 trả lại phần tranh chấp nên vào năm 2008 ông T2 mới thống nhất trả lại cho ông B1, trả lại cho bà theo tờ tự giao trả đất năm 2008 có mặt cha mẹ bà và trưởng ấp là Trần Văn P.
Tại phiên tòa yêu cầu bà N1 và hàng thừa kế của ông T2 trả lại phần đất tranh chấp có diện tích theo do đạc thực tế 1.463,4m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 tại thửa 760.
Bị đơn bà Huỳnh Thị N1 có đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Bé T trình bày:
Bị đơn không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại diện tích đất tại thửa 760, với lý do bà N không có giấy tờ chứng minh về quyền sử dụng phần đất tranh chấp. Về nguồn gốc đất là do ông Nguyễn Văn B1 để lại cho cha bà là ông Nguyễn Văn T2 (mất năm 2020). Xác định phần đất tranh chấp diện tích tại thửa 760 tờ bản đồ 08 trong giấy chứng nhận của ông T2 được cấp ngày 20/9/1993, cây trồng trên đất là do ông B1 trồng rồi cho lại ông T2. Bà xác định các phần đất theo giấy chứng nhận số 000418, ngày 20/9/1993 là do ông Nguyễn Văn B1 (ông nội bà T cho cha bà T (Nguyễn Văn T2) tại các thửa 760, 742, 1532 cho và sử dụng từ năm 1993 đến nay. Trên phần đất tranh chấp có nhà, nhà của bà N1 (phần này phía trước phần đất tranh chấp) còn phần tranh chấp là từ hai trụ đá phía sau nhà bà, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn trình bày:
Có 02 văn bản quan trọng trong vụ án là tờ tự giao trả đất và tờ di chúc nên có cơ sở xác định ý chí của ông T2, ý chí của người trả đất và ý chí của người trong di chúc, có nhân chứng và ký tên, xác định di chúc làm lúc ông B1 sáng suốt, hơn nữa lúc còn sống ông B1 đã cắm trụ đá là để xác định phần đất cho bà N, khi cây trên đất chết thì bà N có trồng thêm cây nhưng không ai phản đối.
Xác định tờ di chúc có là xuất phát từ tờ tự giao trả đất, giấy giao trả đất xác định cấp nhầm nên mới có việc trả đất này, mặc dù phần đất do ông T2 đứng tên nhưng ông T2 đã giao trả đất nên ông B1 mới lập di chúc này.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn trình bày:
Về nguồn gốc đất thì vào năm 1977 cha mẹ đã cho đất ông T2 sử dụng đến năm 1993 thì ông T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất B752523 tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, diện tích tranh chấp là 1463,4m² trên đất có nền mộ nhà củi của bị đơn, tờ giao trả đất không có ghi ngày tháng năm cụ thể, số thửa đất, những người trong tờ giao trả đất đã chết, giấy tờ không công chứng chứng thực, khi ký không thông qua trong gia đình, căn cứ Điều 129 Luật đất đai nên giấy tờ viết tay nên không có hiệu lực pháp luật.
Đối với di chúc bà N là không hợp pháp, không thể viết di chúc trên phần đất của ông T2 đứng tên, theo Điều 31 Luật hôn nhân gia đình xác định đây là tài sản chung của vợ chồng nên ông T2 không thể quyết định cho ông B1, bà B2, hơn nữa giấy giao trả đất do ông B viết không phải do ông T2 viết, không thể hiện rõ ý chí của ông T2, ông N3. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn,
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Huỳnh Thị N1 đối với phần đất diện tích 1.463,4m².
Đình chỉ một phần đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tranh chấp diện tích 536m² một phần thửa 760.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, đo đạc, lược đồ và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: yêu cầu công nhận cho bà diện tích tranh chấp 1.463,4m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Bé T: không đồng ý với yêu cầu kháng cáo và thống nhất với nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, công nhận cho nguyên đơn phần đất tranh chấp diện tích 1.463,4m².
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn thống nhất với nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/9/2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng phần đất này được cha mẹ là ông Nguyễn Văn B1, bà Lê Thị B3 cho vào năm 2010, nhưng ông T2 khai nhầm nên hiện phần đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 đứng tên từ năm 1993 cho đến nay. Căn cứ nguyên đơn cho rằng việc cấp nhầm phần đất này là việc ông T2 thống nhất trả lại phần đất này cho cha mẹ là ông B1, bà B3 theo tờ tự giao trả đất năm 2008. Ngoài ra nguyên đơn xác định bà được ông B1 tặng cho theo theo tờ di chúc ngày 09/11/2017 phần diện tích 4000m² trong đó có phần đất tranh chấp. Bị đơn cho rằng nguồn gốc đất là do ông Nguyễn Văn B1 để lại cho ông Nguyễn Văn T2 (mất năm 2020) trong đó có thửa 760 là phần đất đang tranh chấp, ông T2 sử dụng từ năm 1993 đến nay và giấy chứng nhận của ông T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sư dụng đất số 000418 ngày 20/9/1993.
[2.2] Xét nội dung tờ tự giao trả đất năm 2008 thể hiện “...trước đây vào năm 1992 nhà nước cấp quyền sử dụng đất, tôi đã khai lộn của cha tôi là 2 công đất vính vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi và em tôi là Nguyễn Văn N4 2 công cũng khai lộn vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên. Nay anh em tôi 1 là Nguyễn Văn T2, 2 là Nguyễn Văn N4, xin trả lại cho cha mẹ tôi là Nguyễn Văn B1 và Lê Thị B3 tổng cộng là 4 công toàn quyền quyết định vĩnh viễn, kể từ ngày tháng năm này, tôi và gia đình tôi làm từ giao trả đất này cho cha mẹ tôi cầm để làm bằng...” Xét nội dung tờ tự giao trả đất mặt thứ 1 nêu trên có chữ ký ông B1, bà B3 là cha mẹ ruột của ông T2, bà N và là cha mẹ chồng của bà N1 (bị đơn); có chữ ký của ông T2 (chồng bà N1), mặt phía sau có xác nhận của Trưởng ấp Đ, xã Đ ngày 27/6/2008.
Căn cứ biên bản xác minh nội dung tờ giao trả đất Trưởng ấp Đ B xác định sau khi ký tờ giao trả đất thì các đương sự mới đem lại cho ông P ký xác nhận, lúc đó ông có đọc lại nội dung tờ giao trả đất này, tại cuối mặt thứ 1 tờ giao trả đất có chữ ký đó ông B1, bà B3, ông T2, ông N4 và có nội dung ông T2, ông N4 đồng ý trả lại đất cho ông B1, bà B3 tổng cộng là 4 công nhưng không ghi nhận tại thửa đất số mấy, vị trí đất tại đâu, diện tích cụ thể là bao nhiêu, không ghi ngày tháng cụ thể. Đối với mặt thứ 2 tờ giao trả đất có phụ chú “Diện tích đất nguyễn văn T2 trả lại cho ông nguyễn văn B4 là 2.000m² thửa 760, của nguyễn văn Như là 2.000m², thửa số 1956. Nay anh em chúng tôi xin trả lại cho cha tôi là Nguyễn Văn Bl”.Tuy nhiên, phần phụ chú này không được ghi cùng thời điểm với mặt thứ 1 của tờ tự giao trả đất và Trưởng ấp Đ B xác định nội dung phụ chú phía sau tờ tự giao trả đất thời điểm xác nhận thì ông không thấy nên không có cơ sở để xem xét. Hơn nữa, tờ giao trả đất không được công chứng hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền và việc ông T2 đăng ký kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại các thửa 760, 761, 742, 1532 vào năm 1993 trong khi trước đó ông B1 được cấp chứng thư sở hữu vào năm 1970 đến thời điểm ông T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông B1 vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định nên không có cơ sở xác định đây là phần đất của ông T2 có nguồn gốc từ phần đất của ông B1, bà B3.
[2.3] Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp trước đây được cha mẹ nguyên đơn cho nhưng ông T2 đăng ký, kê khai nhầm, tuy nhiên theo đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 20/4/1993 thì các phần đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, trong đó có phần đất tranh chấp do ông T2 trực tiếp kê khai, đăng ký theo quy định, đến ngày 20/09/1993 ông T2 được UBND huyện C, Hậu Giang cấp giấy chứng nhận số 00418. Tại Công văn số 1270/UBND ngày 05/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang xác định trình tự cấp giấy chứng nhận đối với ông Nguyễn Văn T2 là đúng đối tượng và đúng quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật đất đai 1987, tại thời điểm cấp giấy phần đất này không tranh chấp, không khiếu nại. Xét thấy, phần đất tranh chấp được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 từ năm 1993 cho đến khi hòa giải tranh chấp đất đai tại xã Đ năm 2022 là hơn 29 năm, nguyên đơn cho rằng ông T2 kê khai đăng ký nhầm phần đất của cha mẹ cho bà và đồng ý trả lại cho ông B1, bà B3 vào năm 2008 nhưng không thể hiện có tranh chấp hoặc yêu cầu ông T2 làm thủ tục sang tên lại phần đất này cho ông B1, bà B3. Hơn nữa, bà N cho rằng được ông B1, bà B3 cho đất từ năm 2010, lúc ông B1, bà B3 còn sống cho đến khi ông bà chết năm 2020, 2021 cũng không có yêu cầu ông T2 chuyển quyền sở hữu phần đất này lại cho bà, trong khi đó đến năm 2020 thì ông T2 mới chết.
[2.4] Nguyên đơn cho rằng đã canh tác và sử dụng phần đất cùng với cha là ông B1 đã lâu, cụ thể trên phần đất có những ngôi mộ lâu nhất đã chết cách đây 50 năm và ngôi mộ của chồng bà đã chết cách đây 12 năm. Theo biên bản thẩm định xác định trên phần đất tranh chấp có nền mộ ông Nguyễn Văn T2 (chồng bà N1); Trương Văn Đ1 (chồng bà N); Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thanh T3, nhà củi do bà N1 đang sử dụng, theo lược đồ đo đạc, xác định cây trồng bao gồm dừa, cau, tre, dừa nước, chuối, cây sắn theo biên bản thẩm định, tại phiên tòa sơ thẩm các bên xác định toàn bộ cây trồng trên đất do ông B1, bà B3 trồng trước đây và thu hoạch hoa lợi cho đến khi ông B1, bà B3 chết năm 2021 nên không có căn cứ xác định việc nguyên đơn trực tiếp canh tác phần đất này từ năm 2008, hơn nữa phần đất tranh chấp nằm phía sau nhà của bị đơn đang ở từ trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Quá trình giải quyết cấp phúc thẩm, nguyên đơn có giao nộp đơn xin xác nhận trong đó xác nhận của những người sống tại địa phương về việc xác nhận việc ông T2 kê khai cấp nhầm diện tích 2000m² tại thửa 760 của ông B1 và ông B1 với nguyên đơn là người trực tiếp canh tác phần đất này. Tuy nhiên, phía bị đơn cũng cung cấp xác nhận của những người làm chứng này phủ nhận lời khai của họ theo xác nhận mà phía nguyên đơn cung cấp. Xét lời khai của những người làm chứng, Hội đồng xét xử thấy có sự mâu thuẫn nên không có giá trị chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[2.5] Xét nội dung Tờ di chúc: Nguyên đơn xác định bà được ông B1 tặng cho theo theo tờ di chúc ngày 09/11/2007 phần diện tích 4000m² trong đó có phần đất tranh chấp. Tuy nhiên theo tờ di chúc này không ghi nhận diện tích đất cho bà N cụ thể tại vị trí nào, số thửa, loại đất gì, nằm trong giấy chứng nhận số của ai đứng tên, di chúc không được công chứng, chứng thực theo quy định nên không có giá trị pháp lý. Mặt khác, qua các bản tự khai của bà H1, Huế, Cầm L2, Kim C (là con của ông B1 và bà B3) xác định phần đất tranh chấp được ông B1, bà B3 chỉ hứa tặng cho phần đất này cho bà N, chỉ nói miệng, không có giấy tờ gì chứng cứ chứng minh việc tặng cho này.
[3] Từ những nhận định trên xét thấy nguyên đơn kháng cáo là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm với số tiền là 300.000 đồng nhưng bà N là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng
- Điều 95, Điều 100, Điều 101, Điều 167, Điều 188 Luật đất đai 2013.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về qui định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Huỳnh Thị N1 đối với phần đất diện tích 1.463,4m².
- Đình chỉ một phần đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tranh chấp diện tích 536m² một phần thửa 760.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N được miễn toàn bộ; bà N được nhận lại tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010643 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị N phải nộp, bà N đã nộp xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N được miễn toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 07/6/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 86/2024/DS-PT ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 86/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
