Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/DS-ST

Ngày: 07-5-2024.

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thiên Kim

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Thiên Trung.
  2. Ông Nguyễn Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 349/2023/TLST-DS ngày 16/10/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 405/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 526/2024/QĐST-DS ngày 16/4/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: B L, phường T, quận B, Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền: Ngân hàng N – Chi nhánh Đ; Địa chỉ: NL 03-05 Khu biệt thự phố kinh doanh N1, Nguyễn Hữu T, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N – Chi nhánh Đ: Ông Lý Đạo Phú Q, sinh năm 1987 – Chức vụ: Cán bộ pháp chế. Giấy ủy quyền số 422/GUQ-NHNo.ĐTPHCM –TH, ngày 29/12/2023 (Có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1994

Địa chỉ: 3 tổ D, khu phố E, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Hoàng V, sinh năm 1986.

Địa chỉ: B tổ A, ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 2 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lý Đạo Phú Q trình bày:

Ngân hàng N - Chi nhánh Đ (Ngân Hàng) có ký kết hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Thanh T1 vay tiền như sau:

  • - Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020, số tiền vay 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng.
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi tôm.
  • Phương thức cho vay: Thời hạn vay 12 tháng, nhận tiền vay lần đầu vào ngày 06/10/2020 đến hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 05/10/2021 đã được gia hạn đến 05/10/2022; Lãi suất trong hạn: 9%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi chậm trả: 10%/năm; Phương thức trả nợ gốc: Cuối kỳ vào ngày 05/10/2021; Phương thức trả nợ lãi: Trả 03 tháng/ lần vào ngày 05 của tháng đến hạn.

Ngân hàng đã giải ngân tiền vay theo Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ký ngày 06/10/2020 đính kèm Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020.

Tài sản đảm bảo nợ vay của ông Nguyễn Thanh T1:

  • - Quyền sử dụng thửa đất số 104 tờ bản đồ số 18, diện tích 1.049.8m², địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BR495943, số vào sổ cấp giấy: CS04010 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2015, cập nhật sang tên ông Phạm Hoàng V ngày 07/09/2020. Hợp đồng thế chấp số 6350-LCP-202000401, ngày 06/10/2020, công chứng tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V Chi nhánh M ngày 06/10/2020.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Thanh T1 chỉ thanh toán được một phần tiền lãi là 89.998.785 đồng.

Số tiền nợ tính đến ngày 07/5/2024 là 2.690.904.110 đồng, trong đó:

  • + Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng.
  • + Nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng.
  • + Nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nêu trên nhưng ông T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tính đến ngày 07/05/2024 là: 2.690.904.110 (Hai tỷ sáu trăm chín mươi triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười) đồng, trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Thanh T1 phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo mức lãi suất đã thảo thuận tại Hợp đồng tín dụng 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 đã ký tính từ ngày 08/5/2024 cho đến khi ông T1 trả hết nợ.

Tiền tạm ứng án phí và chi phí tố tụng nguyên đơn đã nộp, đề nghị bị đơn phải có nghĩa vụ nộp lại.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Trong nội dung bản tự khai nộp cho Tòa án bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Bị đơn xác nhận về việc ký kết hợp đồng vay tiền theo như nguyên đơn trình bày, đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 đã ký thì Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa 104 tờ bản đồ số 18, diện tích 1.049.8m², địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BR495943, số vào sổ cấp giấy: CS04010 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2015, cập nhật sang tên ông Phạm Hoàng V ngày 07/09/2020 theo hợp thế chấp số 6350-LCP-202000401, ngày 06/10/2020, công chứng tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V Chi nhánh M ngày 06/10/2020 để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa, ông T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng V:

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông V hoàn toàn không có mặt để trình bày ý kiến hay đưa ra yêu cầu của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh:

Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng:

Về hình thức, qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng về phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tuân thủ nội quy phiên tòa. Việc xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần hỏi, tranh luận tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền 2.690.904.110 (Hai tỷ sáu trăm chín mươi triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười ) đồng, trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hai bên đồng ý lựa chọn Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Xét, Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh Đ với ông Nguyễn Thanh T1 là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật.

Ông Nguyễn Thanh T1 đã nhận số tiền vay theo Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ký ngày 06/10/2020 đính kèm Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 với số tiền là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không thực hiện đúng thỏa thuận về việc trả nợ gốc, nợ lãi cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định của pháp luật và thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng. Đến nay bị đơn chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nợ gốc, bị đơn chỉ thanh toán được một phần tiền lãi là 89.998.785 đồng. Tính đến ngày 07/05/2024, ông Nguyễn Thanh T1 còn nợ Ngân hàng N số tiền là 2.690.904.110 (Hai tỷ sáu trăm chín mươi triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười) đồng, trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 có nội dung: “Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này...”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét:

[2.2.1] Hợp đồng thế chấp số 6350-LCP-202000401, ngày 06/10/2020, công chứng tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V Chi nhánh M ngày 08/9/2020 thế chấp Quyền sử dụng thửa đất số 104 tờ bản đồ số 18, diện tích 1.049.8m², địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BR495943, số vào sổ cấp giấy: CS04010 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2015, cập nhật sang tên ông Phạm Hoàng V ngày 07/09/2020

[2.2.2] Hợp đồng thế chấp trên được ký kết giữa ông Phạm Hoàng V với Ngân hàng N – Chi nhánh Đ là do tự nguyện của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng này được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo đúng quy định pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực.

[2.2.3] Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/05/2023, ghi nhận hiện trạng tài sản thế chấp như sau: Hiện trạng diện tích đất trống, ngoài ra không có công trình, vật kiến trúc trên đất.

[2.2.4] Xét nghĩa vụ bảo đảm tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 6350-LCP-202000401/HĐTC, ngày 06/10/2020: “Bên B tự nguyện đem tài sản nói trên (kể cả khoản tiền bảo hiểm cho tài sản đó nếu có) thế chấp cho bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên C tại các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan nếu có) trong đó cho vay số tiền gốc theo hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 với só tiền là 1.700.000.000 ( Một tỷ bảy trăm triệu) đồng và số tiền theo hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000390/HĐTD ngày 08/09/2020 với số tiền 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng. Và đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên C tại các hợp đồng vay vốn trong tương lai đượ ký giữa bên A và bên C (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan nếu có)).

Theo bảng tính nguyên đơn cung cấp khoản vay (gốc và lãi) của bị đơn đến ngày 07/05/2024 là 2.690.904.110 (Hai tỷ sáu trăm chín mươi triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười) đồng, trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng.

Do đó, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử lý tài sản bảo đảm của bên thế chấp, trường hợp bị đơn không thanh toán số tiền 2.690.904.110 (Hai tỷ sáu trăm chín mươi triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười) đồng, trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 6350-LCP-202000401, ngày 06/10/2020 để thu hồi khoản nợ.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 10.000.000 đồng, bị đơn phải có nghĩa vụ nộp ngay khi án có hiệu lực pháp luật để hoàn trả lại cho nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 39.602.466 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0014747, ngày 06/3/2023. Bị đơn phải chịu án phí 85.818.082 (T2 mươi lăm triệu tám trăm mười tám ngàn không trăm tám mươi hai) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 305, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005;
  • - Căn cứ án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 9, 10, 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Xét xử vắng mặt bị đơn là ông Nguyễn Thanh T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng V.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền là 2.690.904.110 (Hai tỷ sáu trăm chín mươi triệu chín trăm lẻ bốn ngàn một trăm mười ) đồng, trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 547.890.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 143.013.699 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020 và Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ký ngày 06/10/2020 đính kèm Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202000429/HĐTD ngày 05/10/2020, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

      Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    2. Trường hợp ông Nguyễn Thanh T1 thanh toán xong toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng, Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả bản chính:

      Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BR495943, số vào sổ cấp giấy: CS04010 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2015, cập nhật sang tên ông Phạm Hoàng V ngày 07/09/2020.

    3. Trường hợp ông Nguyễn Thanh T1 không thanh toán đầy đủ số nợ (cả gốc và lãi) thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 6350-LCP-202000401, ngày 06/10/2020 công chứng tại Văn phòng C:

      Quyền sử dụng thửa đất số 104 tờ bản đồ số 18, diện tích 1.049.8m², địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BR495943, số vào sổ cấp giấy: CS04010 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2015, cập nhật sang tên ông Phạm Hoàng V ngày 07/09/2020.

  3. Sau khi phát mại tài sản đảm bảo thu hồi khoản dư nợ theo bản án, nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm thu nợ còn thừa, Ngân hàng N sẽ trả lại phần thừa cho chủ tài sản.

    Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản đảm bảo nêu trên vẫn không đủ thu hồi nợ thì ông Nguyễn Thanh T1 phải tiếp tục trả hết khoản nợ còn lại cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng N.

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm
      • - Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí là 85.818.082 (T2 mươi lăm triệu tám trăm mười tám ngàn không trăm tám mươi hai) đồng.
      • - Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N đã nộp 39.602.466 (Ba mươi chín triệu sáu trăm lẻ hai ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0014747 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thanh T1 phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 10.000.000 đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền để hoàn trả cho Ngân hàng N
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - Chi cục T.H.A.DS huyện Nhà Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thiên Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 86/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nh Nông Ng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger