|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/ HNGĐ-ST Ngày: 06-08-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thương
Các hội thẩm nhân dân:
- 1/- Ông Huỳnh Tài Em
- 2/- Ông Liêu Tài Ngoánh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 08 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 05 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST- DS ngày 12 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm H, sinh năm 1985 (Có đơn xin vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
Địa chỉ: a14, xVMB, hHB, tBL.
Địa chỉ: a14, xVMB, hHB, tBL.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 05 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lê Thị Diễm H trình bày:
Về hôn nhân:
Chị Lê Thị Diễm H trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện tiến tới đến hôn nhân năm 2010, đến năm 2013 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy đăng ký kết hôn số 65/2013 cấp ngày 16/07/2013.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 04 năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình nên thường xuyên gây gổ, từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 03 năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn nên chị H yêu cầu ly hôn đối với anh Trần Quốc V.
Về con chung:
Chị H và anh V có hai con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2011 và Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 04 năm 2019 (Hiện nay cháu Ý, cháu D đang sống với anh ). Chị H đồng ý giao 02 người con chung cho anh V tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu Ý, cháu D.
Về tài sản chung:
Chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung:
Chị H cam kết vợ chồng không có nợ ai.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 26 tháng 06 năm 2024, bị đơn anh Trần Quốc V trình bày: Anh và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. anh và chị H chung sống với nhau có 02 người con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2011 và Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 04 năm 2019 (Hiện nay cháu Ý, cháu D đang sống với anh V) do sống không hạnh phúc nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị H. Con chung anh đồng ý tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu Ý, cháu D và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng chị tự thỏa thuận giải quyết.
Ngày 27 tháng 06 năm 2024, Tòa án mở phiên tòa nhưng anh V vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Tòa án đã phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh V đã được triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
* Về thủ tục tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán. Hội đồng xét xử. Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành và chưa thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ tố tụng. Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả nguyên đơn và bị đơn là đúng pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.
* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm Hương đối với anh Trần Quốc V.
Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị Diễm H phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Anh Trần Quốc V không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:
- [1]. Về tố tụng: Chị Lê Thị Diễm H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Quốc V, anh Trần Quốc V có địa chỉ tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, anh V được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng anh V vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét cử vắng mặt anh V. Anh V phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 6, Điều 72 và Điều 91 Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh V. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
- [2]. Về hôn nhân: Giữa chị Lê Thị Diễm H và anh Trần Quốc V có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy đăng ký kết hôn số 65/2013 cấp ngày 16/07/2013, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa chị H và anh V phát sinh mâu thuẫn, chị H cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình nên vợ chồng thường xuyên gây gổ và ly thân từ tháng 03 năm 2024 cho đến nay, lời trình bày của chị H phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Mặt khác, Tòa án triệu tập hòa giải nhưng chị H và anh V không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh V theo quy định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình.
- [3]. Về con chung: Chị H và anh V có 02 người con chung cháu Trần Thị Như Ý, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2011 và cháu Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 04 năm 2019, khi ly hôn, chị H không yêu cầu nuôi con. Quá trình làm việc bản tự khai ngày 26 tháng 06 năm 2024 cháu Ý nguyện vọng sống với anh V. Tuy nhiên chị H đồng ý cho anh V tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu Ý, cháu D và hiện tại cháu Ý, cháu D đang sống cùng với anh V. Xét thấy, anh V chăm sóc con chung tốt, đảm bảo quyền lợi cho cháu Ý, cháu D. Bên cạnh đó nên tiếp tục giao các cháu Ý và cháu D cho anh V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
- [4]. Về cấp dưỡng: Ghi nhận chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh V chưa yêu cầu.
- [5]. Về tài sản chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- [6]. Về nợ chung: Chị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- [7]. Đối với đề nghị của Đại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình là tại phiên tòa, có căn cứ nên được chấp nhận.
[8]. Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Quốc V không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Diễm H đối với anh Trần Quốc Việt. Chị H được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Giao cháu Trần Thị Như Ý, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2011 và cháu Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 23 tháng 04 năm 2019 cho anh V tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc. Ghi nhận chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh V chưa yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
- Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị Lê Thị Diễm H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005496 ngày 31/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu án phí.
- Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Thương |
Bản án số 86/2024/ HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 86/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm H, sinh năm 1985 (Có đơn xin vắng mặt); Địa chỉ: a14, xVMB, hHB, tBL. 2. Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1985 (Vắng mặt); Địa chỉ: a14, xVMB, hHB, tBL.
