|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/ST-HNGĐ
Ngày: 27/3/2025
V/v: tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Ngọc Lâm
Bà Tống Thị Thanh Nam
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Minh Quang- Thư ký viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Phương Lan- Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1990; Căn cước công dân số: 001190****** do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27/12/2021; Nơi thường trú: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội; Số điện thoại liên hệ: 09615*****.
2. Bị đơn: Ông Lê Hữu P, sinh năm 1978; Căn cước công dân số: 0010780***** do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/5/2021; Nơi thường trú: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Không rõ địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 05 tháng 10 năm 2024, bà Lê Thị T có đơn khởi kiện vụ án xin ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Về hôn nhân: xin ly hôn với ông Lê Hữu P.
Về con: Có 02 con chung là: Lê Bảo N, sinh ngày 31/8/2009, giới tính: nam và Lê Tuyết N1, sinh ngày 12/4/2013, giới tính nữ. Bà Lê Thị T đề nghị được nuôi cả hai con chung.
Bà Lê Thị T không yêu cầu ông Lê Hữu P cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản, nhà ở, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Bà Lê Thị T tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị T trình bày nội dung vụ án như sau:
Về hôn nhân: Hai bên ký kết hôn ngày 03/7/2008 tại UBND xã V, huyện P, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau đó, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2023, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do khác biệt về tính cách, bất đồng quan điểm sống khiến tình cảm hai vợ chồng không còn như trước. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ năm 2023 cho đến nay. Hiện tại, bà Lê Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên không thể hàn gắn với nhau nữa, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết cho ly hôn.
Về con: Có 02 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 31/8/2009, giới tính: nam và Lê Tuyết N1, sinh ngày 12/4/2013, giới tính nữ. Bà Lê Thị T đề nghị được nuôi cả hai con chung.
Hai con chung đã có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ (là bà Lê Thị T).
Bà Lê Thị T không yêu cầu ông Lê Hữu P cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản, nhà ở, vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Bà Lê Thị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí xin ly hôn của vụ án.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã xuất trình các tài liệu, chứng cứ sau:
- 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính).
- 02 Giấy khai sinh của con (Bản sao)
- Giấy tờ nhân thân khác.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có công văn số 23/2025/CV-TA(HC) ngày 17/01/2025 gửi Phòng Q – Công an T1 về việc đề nghị cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của ông Lê Hữu P. Phòng Q đã có văn bản trả lời và các tài liệu kèm theo thể hiện ông Lê Hữu P đã xuất cảnh ngày 12/9/2023, tuy nhiên không rõ nơi đến.
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội gửi các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Lê Hữu P thông qua mẹ đẻ của ông Lê Hữu P là bà Nguyễn Thị L, cư trú tại: thôn B, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. Bà Nguyễn Thị L xác nhận, ông Lê Hữu P hiện nay đang sống và làm việc tại Úc, vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng do tính chất công việc ông Lê Hữu P không cung cấp cho gia đình địa chỉ cụ thể. Gia đình đã thông báo cho ông Lê Hữu P biết việc bà Lê Thị T xin ly hôn và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đang thụ lý giải quyết. Ông Lê Hữu P không có ý kiến gì, cũng không nói sẽ cung cấp bản tự khai hay tài liệu gì về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay;
Bà Lê Thị T có đơn xin vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, kiên quyết xin ly hôn với ông Lê Hữu P.
Ông Lê Hữu P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị T đối với ông Lê Hữu P; Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Lê Hữu P. Về con: xác nhận bà Lê Thị T và ông Lê Hữu P có 02 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 31/8/2009, giới tính: nam và Lê Tuyết N1, sinh ngày 12/4/2013, giới tính nữ; giao cả hai con chung cho bà Lê Thị T nuôi dưỡng; về tài sản, nhà ở: bà Lê Thị T và ông Lê Hữu P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí: bà Lê Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Lê Thị T xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, ông Lê Hữu P đang ở Úc không về Việt Nam nên đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.
Ông Lê Hữu P hiện đang ở Úc, không đến Tòa án, không gửi văn bản cho Tòa án và không cung cấp địa chỉ hiện tại cho Tòa án. Bà Lê Thị T là nguyên đơn thuộc trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài, thông qua thân nhân của bị đơn có căn cứ để xác định họ vẫn liên hệ với thân nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Tòa án nên theo hướng dẫn tại công văn 253/TANDTC-PC ngày 26.11.2018 thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Lê Hữu P kết hôn tự nguyện, không vi phạm điều cấm nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà Lê Thị T xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023, ông Lê Hữu P đã xuất cảnh khỏi Việt Nam không rõ nơi đến. Sau khi bà Lê Thị T nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thông qua gia đình, ông Lê Hữu P đã được biết việc bà Lê Thị T khởi kiện tuy nhiên không có ý kiến gì, không cung cấp văn bản, tài liệu nào. Hội đồng xét xử xét thấy: việc Tòa án giải quyết cho ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
[3] Về con chung:
Bà Lê Thị T và ông Lê Hữu P có 02 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 31/8/2009, giới tính: nam và Lê Tuyết N1, sinh ngày 12/4/2013, giới tính nữ. Khi ly hôn, bà Lê Thị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Hai con chung Lê Bảo N và Lê Tuyết N1 đã có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ (là bà Lê Thị T).
Xét thấy, kể từ khi ông Lê Hữu P đi Úc, không liên hệ với bà Lê Thị T, cả hai con chung do bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để tranh xáo trộn cuộc sống của con chung, đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con, nên giao cả hai con chung cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị T không yêu cầu ông Lê Hữu P cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Lê Hữu P.
[4] Về tài sản: Ông Lê Hữu P và bà Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản khi ly hôn nên Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Lê Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Căn cứ vào Điều 27, 63, 227, 220, 264, 266, 267, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 19, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị T và ông Lê Hữu P.
- Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 31/8/2009, giới tính: nam và Lê Tuyết N1, sinh ngày 12/4/2013, giới tính nữ cho bà Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Lê Hữu P cho đến khi bà Lê Thị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Ông Lê Hữu P thực hiện quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, quyền nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về chia tài sản: bà Lê Thị T và ông Lê Hữu P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0076948 ngày 16/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Bà Lê Thị T đã nộp xong tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phương Thảo |
Bản án số 86/2025/ST-HNGĐ ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 86/2025/ST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
