|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 86/2025/HSST Ngày: 20 – 6 – 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Chu Thị Thu Hà |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Dương Thị Kim Nhiên |
| Bà Hồ Thị Xuân Thiều | |
| - Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. | |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chiều – Kiểm sát viên. | |
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2025/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXX-HS ngày 09/6/2025 đối với bị cáo:
Trần Quốc T, sinh ngày 31/10/1997; tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Đ, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước; CCCD số: [...]; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc M, sinh năm 1970 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: 01. Ngày 09/6/2016, Trần Quốc T bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 214/HSST; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- - Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước;
- - Công ty TNHH T3; Địa chỉ: đường N, khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trường Đ – Giám đốc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1962; Địa chỉ nơi cú trú: T, N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa Trần Quốc T và anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1989 có mối quan hệ quen biết. Đầu tháng 01/2025, anh Q thuê căn kiốt tại tổ D, khu phố A, phường T, thị xã C để chuẩn bị mở bưu cục giao hàng “Best Expess Thành Tâm” nên anh Q đăng tin trên facebook cá nhân tìm người làm nhân viên giao hàng. T biết được và liên lạc với anh Q xin việc thì anh Q đồng ý. Ngày 12/01/2025, T đi từ Bình Dương đến gặp anh Q tại phường T và ở tại căn kiốt nơi anh Q thuê để mở bưu cục để làm việc.
Sáng ngày 13/01/2025, anh Q dẫn T đến gặp anh Nguyễn Trường Đ, sinh năm 1980 - Giám đốc Công ty TNHH T4 (viết tắt Công ty H1) là trưởng bưu cục B1 tại phường H, thị xã C để xin làm nhân viên giao hàng (thường gọi Shipper) nhằm làm quen cách giao nhận hàng. Anh Đ hướng dẫn về cách thức và quy định làm việc tại bưu cục B1: Về giờ giấc làm việc, giờ nhận hàng, cách thức giao hàng, thu tiền hộ và nộp tiền lại cho bưu cục khi kết thúc mỗi ngày làm việc, nếu thực hiện sai quy định thì sẽ bị phạt tiền trừ vào tiền công. Sau đó, anh Đ nhận T vào làm người giao hàng và T được hưởng tiền thù lao giao hàng. Giữa anh Đ và T chỉ thỏa thuận miệng chứ không ký kết hợp đồng lao động hay thỏa thuận gì khác. Công việc của T hàng ngày là nhận các đơn hàng, mang đi giao cho khách và có trách nhiệm thu hộ tiền của khách hàng mang về giao nộp lại cho bưu cục B1. Sau đó, anh Q cho T mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7.2 để anh Đ cài đặt app cho T thực hiện công việc giao hàng.
Ngay trong buổi sáng ngày 13/01/2025, anh Đ cho nhân viên tại bưu cục B1 bàn giao cho T một số đơn hàng tại bưu cục B1 và T thực hiện việc giao hàng tại địa bàn phường T, thị xã C. Đến ngày 16/01/2025, anh Q đưa cho T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 thay thế xe mô tô tay ga mà trước đó T đang sử dụng, để T tiếp tục đi giao hàng. Hàng ngày, sau khi giao hàng xong đến tối thì T về ở tại căn kiốt tại tổ D, khu phố A, phường T, thị xã C.
Đến ngày 10/02/2025, T nhận tổng cộng 91 đơn hàng tại bưu cục B1 và đi giao cho khách như thường ngày. Sau khi T đã giao hàng và thu hộ tiền của khách được 49 đơn với tổng số tiền 17.879.878 đồng và T đã báo trên hệ thống app của Best Expess Hưng L cài đặt sẵn trên điện thoại di động, số đơn hàng còn lại chưa giao là 42 đơn. Đến khoảng 19 giờ ngày 10/02/2025, T mang số đơn hàng chưa giao cho khách hàng mang về để tại căn kiốt. Rồi T kiểm tra trên app điện thoại thấy tổng số tiền giao hàng trong ngày là 17.879.878 đồng. Tuy nhiên, tiền mặt mà T thu hộ của khách mà T đang cất giữ khoảng 10.000.000 đồng và tiền thu hộ có trong tài khoản cá nhân của T khoảng 3.700.000 đồng, tổng cộng số tiền khoảng 13.700.000 đồng. T thấy tổng số tiền đã giao hàng trên aap nhiều hơn so với tổng số tiền mà T đang cất giữ khoảng 4.000.000 đồng nhưng T không xác định được lý do bị chênh lệch thất thoát và T không có tiền để bù vào số tiền chênh lệch hoàn lại cho bưu cục B1. Từ đó, T nảy sinh ý định bỏ trốn để chiếm đoạt tiền của bưu cục B1 và điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7.2 cùng
3
mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93P1-545.90 mà anh Q cho T mượn. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T chạy xe một mình từ phường T đi về hướng TP , tỉnh Bình Phước qua địa phận tỉnh Đắk Nông và đi về TP ., tỉnh Khánh Hòa để trốn.
Ngày 11/02/2025, T liên lạc với bạn là chị Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 2005, địa chỉ: A N, phường V, TP ., tỉnh Khánh Hòa bằng điện thoại di động xin ở nhờ để tìm việc làm thì chị T2 đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày 11/02/2025, T chạy xe Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 đến phòng trọ của T2 và chồng là anh Nguyễn Quốc B. Sau đó, T ở tại phòng trọ của chị T2 và anh B đang thuê và sử dụng số tiền chiếm đoạt được để tiêu xài cá nhân và chơi game hết.
Ngày 13/02/2025, do cần tiền để tiêu xài nên T nhờ anh B tìm người mua chiếc xe mô tô nhã hiệu Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 thì B đồng ý. Sau đó, anh B giới thiệu cho ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1962, địa chỉ: tổ A, N, phường N, TP ., tỉnh Khánh Hòa đến gặp T để mua xe. T nói dối xe có giấy tờ nhưng T mang cầm cố cho người khác. Rồi giữa T và ông T1 thỏa thuận mua bán chiếc xe với số tiền 3.000.000 đồng. Ông T1 đồng ý mua xe nên trả đủ số tiền 3.000.000 đồng cho T và lấy xe mô tô Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 mang về sử dụng. Còn T tiếp tục ở tại phòng trọ của gia đình chị T2, anh B và sử dụng tiền bán xe để tiêu xài.
Khi biết T đã lấy xe và điện thoại cùng số tiền hàng bỏ trốn, không liên lạc được. Ngày 11/02/2025, anh Q đến Công an tố giác Trần Quốc T về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tại Cơ quan CSĐT, Trần Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên (Bút lục số 51-68, 69-70, 71-77, 79-82, 83-87, 88-107).
Quá trình điều tra xác định: Ngày 10/02/2025, T nhận 91 đơn hàng tại bưu cục B1 và mang đi giao được 49 đơn, thu hộ số tiền 17.879.878 đồng. Riêng 42 đơn hàng chưa giao thì T mang về để lại tại bưu cục của anh Q. Sau khi T chiếm đoạt tài sản bỏ trốn thì anh Q kiểm tra phát hiện còn lại 36 đơn hàng nên anh Q giao nộp lại cho bưu cục B1 nên còn lại 06 đơn hàng chưa xác định được trị giá 1.436.100 đồng.
Bản kết luận định giá số 12/2025/ĐGTS ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 trị giá 6.000.000 đồng; Điện thoại nhãn hiệu Nokia 7.2 trị giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) (Bút lục số 40A-43).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 09/6/2016, Trần Quốc T bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 214/HSST. Các Quyết định khác của Bản án: nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Chi cục T5 ra Quyết định ủy thác số 76 ngày 09/8/2016 gửi đến Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Bình Phước để thi hành án dân sự nộp tiền án phí. Qua xác minh, Chi cục THADS huyện Đ xác định chưa nhận được Quyết định ủy thác số 76
4
ngày 09/8/2016 của Chi cục T5 nên không có cơ sở để thụ lý thi hành án dân sự nộp tiền án phí đối với Trần Quốc T. Mặc khác, Trần Quốc T chưa chấp hành việc nộp tiền án phí theo Bản án số 214/HSST nêu trên. Do đó, lần phạm tội này Trần Quốc T thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo T đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Thu giữ xe 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 (xe có giấy tờ hợp pháp) và điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7.2. Quá trình điều tra xác định xe và điện thoại di động là tài sản của anh Nguyễn Minh Q cho T mượn và bị T chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý trả lại xe và điện thoại di động cho anh Q (Bút lục số 113-115).
Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo T chiếm đoạt số tiền 17.879.878 đồng của anh Đ. Anh Q đã tự nguyện hỗ trợ hoàn trả cho anh Đ số tiền 10.000.000 đồng. Anh Đ yêu cầu T phải hoàn số tiền còn lại 7.879.878 đồng nhưng T chưa bồi thường.
- - Anh Q đã nhận lại tài sản xe mô tô, điện thoại và tự nguyện hỗ trợ 10.000.000 đồng trả anh Đ, anh Q khắc phục hậu quả thay bị cáo T. Anh Q không yêu cầu T trả số tiền 10.000.000 đồng. Do vậy, trách nhiệm dân sự không đặt ra.
- - Đối với 06 đơn hàng bị thất thoát mất trị giá 1.436.100 đồng. Quá trình điều tra vụ án, bị can T xác định trong quá trình vận chuyển các đơn hàng mang đi giao cho khách đã làm mất các đơn hàng này. Anh Đ yêu cầu T phải bồi thường số tiền 1.436.100 đồng nhưng T chưa bồi thường.
- - Đối với số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo T có được từ việc bán xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 cho ông T1, sô tiền có được T sử dụng tiêu xài hết nên không thu hồi được. Ông T1 không có yêu cầu T phải hoàn trả lại số tiền này nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Bản cáo trạng số 94/CT-VKSCT ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm
5
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/02/2025, lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Minh Q giao xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93P1-545.90 trị giá 6.000.000 đồng và điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7.2 trị giá 2.000.000 đồng (tổng trị giá tài sản là 8.000.000 đồng) cho T mượn đi làm và lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Trường Đ giao cho T có trách nhiệm thu hộ 49 đơn hàng với tổng số tiền 17.879.878 đồng để mang về nộp lại cho Bưu cục B1. T đã chiếm đoạt tổng giá trị tài sản là 25.879.878 đồng để sử dụng vào mục đích chơi game và tiêu xài cá nhân hết. Như vây, hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị là 25.879.878 đồng của đã đủ yêu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo
6
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 214/2016/HSST ngày 09/06/2016 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt Trần Quốc T 09 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xoá án tích. Do vậy, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã có tiền án liên quan đến tội xâm phạm sở hữu nhưng vẫn thực hiện thể hiện ý thức xem thường pháp luật, khó cải tạo nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản";
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/02/2025.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
7
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Thu Hà |
Bản án số 86/2025/HSST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 86/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
