|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thanh Trà.
Ông Nguyễn Quang Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 theo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Hồng Ư, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1990; tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị N và 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V.
Người bào chữa cho bị cáo Ư: Ông Nguyễn Văn H - Luật sư Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh V; địa chỉ: Số C, Q, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Bị hại:
- Anh Vũ Tuấn A, sinh năm 1978 và vợ là chị Lê Thị H1, sinh năm 1992; đều trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “anh Tuấn A vắng mặt, chị H1 có mặt”.
- Chị Lê Ngọc A1, sinh năm 2005, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại anh Tuấn A và chị H1: Bà Nguyễn Thị T1, Luật sư, Văn phòng L1 – Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: A, Chung cư T, T, Hà Nội.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
Người làm chứng:
- Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1967, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1983, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng Ư cùng gia đình lập cửa hàng kinh doanh hàng nông sản ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V. Cửa hàng này lấy tên là đại lý Thúy B1, đối diện với cửa hàng này qua đường T, là cửa hàng của gia đình anh Vũ Tuấn A, sinh năm 1978 và vợ là Lê Thị H1, sinh năm 1992, đều trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Ư điều khiển xe ô tô chở hàng đỗ tại lề đường, giáp với cửa hàng của gia đình anh Vũ Tuấn A thì bị anh Tuấn A, chị H1 có lời lẽ ngăn cấm, không cho Ư đỗ xe, vì cho rằng đỗ xe như vậy làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh, buôn bán của cửa hàng gia đình anh Tuấn A, dẫn đến việc Ư và vợ chồng anh Tuấn A cãi chửi nhau. Sau đó, Ư đã điều khiển xe ô tô đỗ xe ở vị trí khác.
Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Ư nhìn thấy anh Tuấn A đi sang nhà của gia đình ông Vũ Văn T2, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T (nhà của gia đình ông T2 giáp với cửa hàng của anh Tuấn A và đối diện qua đường TL 304 với đại lý T5), nên Ư đã nảy sinh ý định đánh anh Tuấn A cho hả giận, vì Ư cho rằng trước đó anh Tuấn A có lời nói xúc phạm Ước. Ước đi vào bếp của gia đình cầm lấy 01 con dao gọt hoa quả có đặc điểm chiều dài 19cm, có một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, chuôi dao bằng nhựa màu cam, phần lưỡi dài khoảng 10cm (thường ngày gia đình Ư sử dụng con dao này để gọt hoa quả), đúc vào túi bên phải áo khoác màu đen đang mặc. Ước đi bộ một mình hướng sang nhà ông T2, hai tay Ư đúc vào túi áo. Khi đến nhà ông T2, Ư nhìn thấy anh Tuấn A đang ngồi trên ghế nhựa đánh bài tú lơ khơ với ông T2 và anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T tại bàn nhựa đặt trên vỉa hè nhà ông T2.
Ước đi bộ từ từ đến đứng cạnh bên phải anh Tuấn A, cách khoảng 50cm rồi dùng tay trái Ước giữ vai phải anh Tuấn A, tay phải Ước rút con dao từ trong túi áo khoác ra, vung dao đâm một nhát từ sau về trước, từ trên xuống dưới về phía người của anh Tuấn A, thì anh Tuấn A kịp thời phát hiện, dùng hai tay đẩy tay cầm dao của Ư, nên Ư không đâm trúng. Theo đà, anh Tuấn A nhổm dậy đẩy Ước ra thì cả anh hai đều ngã ngửa ra nền nhà, bàn ghế nhựa bị đổ. Ước đứng dậy lao về phía anh Tuấn A đang tư thế nằm ngửa, thì anh Tuấn A dùng hai chân đạp liên tục về phía Ước. Tay phải U cầm dao đâm loạn xạ về phía anh Tuấn A, trúng 02 nhát vào vùng đầu gối chân phải của anh Tuấn A, làm anh Tuấn A bị rách da, chảy máu. Lúc này, chị H1 thấy chồng là anh Tuấn A bị đánh nên chị H1 chạy vào can ngăn và đứng đối diện phía bên tay phải đang cầm dao của Ư. Chị H1 dùng hai tay đẩy vào hai tay của Ư để can ngăn, nhưng Ư vẫn đang đâm loạn xạ về phía anh Tuấn A, thì nhát dao này đã đâm trúng vào bụng trái chị H1. Chị H1 vẫn tiếp tục dùng tay trái giữ vào cách tay phải (đang cầm dao) của Ư, tay phải chị H1 giữ vào tay trái Ư, hai bên giằng co nhau, chị H1 muốn đẩy Ư ra xa còn Ư thì muốn đẩy chị H1 ra xa để tấn công anh Tuấn A (lúc này anh Tuấn A vẫn đang nằm ngửa dưới nền nhà dùng hai chân đạp liên tục về phía Ước).
Khi bị Ư đâm vào bụng trái thì chị H1 bỏ tay trái ra khỏi tay Ư để ôm bụng, tay phải chị H1 vẫn giữ vào tay trái Ư thì Ư vung dao chém 02 nhát vào tay phải chị H1 (01 nhát trúng vào cổ tay phải và 01 nhát trúng vào ngón cái tay phải). Chị H1 du đẩy Ư về phía sau, thì Ư dùng tay trái nắm vào ống tay áo trái chị H1 kéo chị H1 tránh sang một bên, làm chị H1 ngã lùi về phía sau. Ước tiếp tục tiến lên để tấn công anh Tuấn A vẫn đang nằm dưới vỉa hè đạp chân về phía Ước, thì chị Lê Ngọc A1, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (là em gái chị H1) chạy đến can ngăn. Chị Ngọc Al đứng đối diện bên tay phải (đang cầm dao) của Ư để can ngăn, thì bị Ư xô ngã ngồi xuống nền. Anh Tuấn A vẫn dùng chân đạp về phía Ước, Ư vung dao tiếp tục đâm về phía anh Tuấn A, thì đâm trúng lòng bàn tay trái của chị Ngọc A1 giơ lên đỡ.
Sau đó, Ư tiếp tục cầm dao tiến về phía trước và tiếp tục thực hiện động tác đâm về phía chân anh, anh Tuấn A dùng chân đạp lại trúng vào tay cầm dao của Ư làm lưỡi dao lệch hướng, đâm một phát trúng vào gối chân trái của Ư gây rách da, chảy máu. Cùng lúc này có anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1991, chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (là vợ của U), anh Lê Văn D, sinh năm 1994, đều trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc chạy từ ngoài đường vào khu vực Ư đang cầm dao đâm, chém để can ngăn. Ngoài ra còn có 04 người nam giới lạ mặt (không rõ nhân thân lai lịch từng người) cũng chạy vào cửa hàng của ông T2, trong đó có 01 người nam giới lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch), cầm 01 chiếc ghế nhựa màu xanh có sẵn trong cửa hàng ném về phía Ư và các bị hại, thì ghế nhựa trúng vào vai anh Tuấn A nhưng không ai bị thương tích gì. Sau đó, Ư lùi lại và được ông T2, anh T3 can ngăn thì Ư đi về, còn anh Tuấn A, chị H1 và chị Ngọc A1 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh V cấp cứu, điều trị. Trong đó: Anh Tuấn A và chị Ngọc A1 điều trị từ ngày 19/12/2023 đến ngày 21/12/2023 thì ra viện; chị H1 điều trị từ ngày 19/12/2023 đến ngày 02/01/2024 thì ra viện.
Ngày 19/12/2023, anh Tuấn A, chị H1, chị Ngọc A1 đều có đơn đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hồng Ư về hành vi gây thương tích cho các bị hại.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ án xảy ra tại vỉa hè trước cửa nhà ở của hộ gia đình ông Vũ Văn T2, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích (5 x 5,5)m, bề mặt hè được trải tấm bạt trên có kê một số hàng hóa để bán hàng. Khu vực này phía Bắc tiếp giáp hộ gia đình ông Toàn N1; phía Nam tiếp giáp hộ gia đình bà Mến D1; phía Đông tiếp giáp đường liên xã; phía Tây là nhà của ông T2.
Tại hiện trường phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt rải rác thành vùng trên diện (2,3 x 1,1)m, ký hiệu (1) trên sơ đồ hiện trường. T4 (1) cách mép nhà ông T2 2,5m, cách hộ Mến Dĩ 1,6m. Ngoài ra phát hiện trên hiện trường còn có 04 chiếc ghế nhựa và 01 bàn nhựa. Ký hiệu: (A) là chiếc ghế nhựa có bốn chân màu đỏ có phần tựa lưng nhãn hiệu G3, kích thước mặt ngồi ghế là (30x25)cm, cao 22cm, phần tựa lưng cao 44cm, trên ghế tại mép góc bên trái có vết vỡ nhựa kích thước (10x5)cm; (B) là chiếc ghế nhựa có bốn chân màu đỏ nhãn hiệu Việt Nhật, kích thước mặt ngồi (35x34,5)cm, cao 34cm, phần tựa lưng cao 64cm; (C) là chiếc ghế nhựa có bốn chân màu xanh có nhãn hiệu THJC28 có kích thước mặt ngồi (30x30)cm, cao 27cm, phần tựa cao 50cm, tại mép góc bên phải phát hiện vùng vỡ nhựa kích thước (12x6)cm; (D) là ghế nhựa bốn chân màu đỏ có nhãn hiệu Song Long, kích thước mặt ngồi (25x25)cm, cao 44cm; (E) là bàn nhựa bốn chân màu đỏ có nhãn hiệu Việt Nhật, kích thước mặt bàn (41x63)cm, cao 50cm. Khu vực này ký hiệu (2) trên sơ đồ hiện trường. Vị trí (A), (B), (C), (D) nằm tiếp giáp khu vực giáp ranh với nhà Mến D1 từ ngoài vào trong, từ Đ sang T cách tâm (1) là 1,5m. Vị trí (E) nằm trên phần hè hộ Mến D1, cách tâm (1) là 2,1m.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ được mẫu chất màu nâu đỏ tại vị trí (1), 04 (bốn) ghế nhựa và 01 (một) bàn nhựa tại vị trí (2).
- Ngày 19/12/2023, Ư đã giao nộp 01 con dao có tổng chiều dài 19cm, có một lưỡi sắc bằng kim loại, đầu dao nhọn, chuôi dao bằng nhựa màu cam dài 09cm, phần lưỡi dao dài 10cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 2,5cm là tang vật của vụ án.
- Ngày 19/12/2023, anh Vũ Tuấn A đã giao nộp: 01 quần dài màu đen, 01 áo len màu vàng, dạng cổ lọ và 01 áo khoác len màu xám không rõ nhãn hiệu để phục vụ điều tra.
- Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trích xuất từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị Hương G1, sinh năm 1995; trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (con ông bà T2 - Tuyết) 01 đoạn video, dung lượng 8,4MB (8,815,235 bytes) lưu trong 01 (một) đĩa CD-R, niêm phong trong phong bì thư dán kín.
- Ngày 16/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã thu giữ của anh Tuấn A 04 đoạn video có nội dung liên quan, tổng dung lượng 23,9MB (25,069,206 bytes), lưu trong 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston, niêm phong trong phong bì thư dán kín. - Ngày 16/5/2024, anh Vũ Tuấn A cung cấp cho Cơ quan CSĐT 04 đoạn video khác do anh Tuấn A thu thập được từ nguồn camera từ các hộ gia đình: Hộ gia đình G2 - Nguyệt, hộ M - Dĩ, hộ T2 - Tuyết, có tên 20231219_093333_99.mp4,5139438001459.mp4,5139443673320.mp4,438292466168.mp4 có nội dung thể hiện một số diễn biến liên quan đến vụ án.
- Ngày 02/12/2024, chị Nguyễn Thị N (vợ U) đã giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại Galaxy S21 Ultra 5G của Nguyễn Hồng Ư.
* Kết quả xác minh thương tích và kết quả giám định thương tích:
1. Đối với thương tích của chị Lê Thị H1:
Chị Lê Thị H1 bị thương tích gồm:
- 01 vết thương thấu bụng kích thước 02cm, vùng thượng vị rách tĩnh mạch gan trái;
- 01 vết thương vùng cổ tay bên phải kích thước 04cm;
- 01 vết thương kích thước 2cm đầu ngón tay I bàn tay phải.
Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với chị H1. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 485/KLTTCT-PYVP ngày 20/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh V, kết luận:
* Các kết quả chính:Vết mổ đường trắng giữa trên rốn kích thước trung bình nhỏ xếp: 02%. 02 dẫn lưu mạn sườn trái kích thước nhỏ, mỗi vết xếp: 01%; 01%. Hiện tại đương sự đang nằm điều trị “khâu vết thương gan, tràn dịch ổ bụng”, khi nào ra viện ổn định giám định bổ sung. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên là do vật sắc gây nên.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị H1 tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
Ngày 31/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung về thương tích đối với chị H1. Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 485/KLTTCT ngày 19/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V, kết luận:
* Kết quả chính: Khâu vết thương gan xếp 31%; Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%; Sẹo vết thương phần mềm phía sau vết sẹo này kích thước trung bình xếp 02%; Sẹo vết thương phần mềm đường trắng giữa trên và dưới rốn kích thước trung bình, khâu rách phúc mạc xếp: 02%. Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa phía thành bụng trái kích thước nhỏ xếp: 01%; Sẹo vết thương phần mềm hố chậu trái kích thước trung bình xếp: 02%.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị H1 tại thời điểm giám định là: 36% (Ba mươi sáu phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
Ngày 27/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung về thương tích đối với chị H1. Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 61/KLTTCT-GĐPYVP ngày 31/3/2025 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh V, kết luận:
* Kết quả chính: Khâu vết thương gan xếp: 31%. Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%. Sẹo vết thương phần mềm mặt sau trong cổ tay phải khâu phục hồi gân duỗi, kích thước trung bình xếp: 02%. Sẹo vết thương phần mềm đường trắng giữa trên và dưới rốn kích thước trung bình, khâu rách phúc mạc xếp: 02%. Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa phía thành bụng trái kích thước nhỏ xếp: 01%. Sẹo vết thương phần mềm đầu đốt 2 ngón 1 tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%. Sẹo vết thương phần mềm hố chậu trái kích thước trung bình xếp: 02%.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị H1 tại thời điểm giám định là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
2. Đối với thương tích của anh Vũ Tuấn A:
Anh Tuấn A bị thương tích gồm: 01 vết thương 1/3 trên mặt ngoài cẳng chân phải kích thước 08cm, bờ sắc nhọn lộ gân cơ và 01 vết thương 1/3 mặt trong cẳng chân phải kích thước 03cm, bờ sắc nhọn.
Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 674 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định thương tích đối với anh Tuấn A. Ngày 20/12/2023, Trung tâm pháp y tỉnh V ra bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 484/KLTTCT-PYVP, kết luận:
* Các kết quả chính: Vết thương phần mềm mặt trong gối phải kích thước nhỏ xếp: 01%. Vết thương phần mềm 1/3 trên mặt ngoài cẳng chân phải kích thước trung bình xếp: 02%. Hiện tại đương sự đang nằm điều trị tại bệnh viện, khi nào ra viện ổn định giám định bổ sung. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên là do vật sắc gây nên.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Tuấn A tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
Ngày 31/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định Trưng cầu giám định bổ sung số 212, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định bổ sung pháp y về thương tích đối với anh Tuấn A. Kết quả: Ngày 19/02/2024, Trung tâm pháp y tỉnh V ra bản Kết luận Giám định bổ sung số 484/KLTTCT-PYVP tổn thương cơ thể trên người sống số 62, kết luận:
* Kết quả chính: Sẹo vết thương phần mềm mặt trong gối phải kích thước nhỏ, xếp: 01%. Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt ngoài cẳng chân phải kích thước trung bình, xếp: 02%.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Tuấn A tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
* Kết quả trưng cầu giám định thương tích của chị Lê Ngọc A1:
Kết quả xác minh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V xác định: Chị Lê Ngọc A1 bị thương tích gồm: 01 vết thương tại vị trí ô mô cái bàn tay trái, kích thước 1,5cm, bờ sắc nhọn.
Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 675 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định thương tích đối với chị Lê Ngọc A1 làm căn cứ giải quyết. Ngày 20/12/2023, Trung tâm pháp y tỉnh V ra bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 483/KLTTCT-PYVP, kết luận:
* Các kết quả chính: Vết thương phần mềm ô mô cái bàn trái kích thước nhỏ xếp: 01%. Hiện tại đương sự đang nằm điều trị tại bệnh viện, khi nào ra viện ổn định giám định bổ sung. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên là do vật sắc gây nên.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Ngọc A1 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
Ngày 31/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định Trưng cầu giám định bổ sung số 213, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định bổ sung pháp y về thương tích đối với chị Lê Ngọc A1. Ngày 19/02/2024, Trung tâm pháp y tỉnh V ra bản Kết luận Giám định bổ sung số 483/KLTTCT-PYVP tổn thương cơ thể trên người sống số 63, kết luận:
* Kết quả chính: Sẹo vết thương phần mềm ô mô cái bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.
* Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Ngọc A1 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
* Kết quả giám định thương tích của Nguyễn Hồng Ư:
Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Ư nhưng Ư đã kiên quyết từ chối giám định thương tích. Ngày 20/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định dẫn giải Ước đến Trung tâm pháp y tỉnh V để giám định thương tích nhưng U vẫn kiên quyết từ chối giám định với lý do thương tích là tự do Ước gây ra, nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Ư.
*Kết quả giám định ADN:
- Đối với các dấu vết thu tại hiện trường: Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ được mẫu chất màu nâu đỏ tại vị trí (1), ngày 15/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã trưng cầu Viện pháp y quân đội giám định ADN đối với mẫu chất màu nâu đỏ tại vị trí (1). Tại Kết luận giám định số HT2335.24/PY-XNSH ngày 17/5/2024 của V, kết luận: “Dấu vết tăm bông thu mẫu chất màu nâu đỏ tại hiện trường vụ án được niêm phong trong các phong bì dán kín (ký hiệu lần lượt là A2, A3, A4, A5, A6) gửi giám định là sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Lê Thị H1 (ký hiệu M3)”.
- Đối với 01 con dao có vết máu thu giữ của Ư. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thu giữ các mẫu ADN của Ư, Tuấn A, chị H1 và chị Ngọc A1. Ngày 21/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trưng cầu Viện pháp y quân đội giám định mẫu sinh phẩm bám trên con dao trên. Tại Bản kết luận giám định ADN số HT773.23/PY-XNSH ngày 27/12/2023 của V, kết luận:
“1. Dấu vết trên cán dao của con dao (ký hiệu A1) gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Nguyễn Hồng Ư (ký hiệu M4); không trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Vũ Tuấn A (ký hiệu M1), mẫu máu của Lê Ngọc A1 (ký hiệu M2), mẫu máu của Lê Thị H1 (ký hiệu M3).
2. Dấu vết trên lưỡi dao của con dao (ký hiệu A1) gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường bị tạp nhiễm, trong đó có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Nguyễn Hồng Ư (ký hiệu M4)”.
*Kết quả giám định kỹ thuật số, điện tử:
- Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với đoạn video thu thập được tại nhà chị Nguyễn Thị Hương G1. Tại Bản kết luận giám định số 686/KL – KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:
“- Chụp được 13 (mười ba) ảnh theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 (một) bản ảnh giám định.
Ảnh 1: Xuất hiện một số người trong tầm quan sát của camera, trong đó: 01 người mặc quần áo dài tối màu đi từ ngoài vào (ký hiệu người A), 01 người mặc quần áo dài tối màu, đang ngồi trên ghế (ký hiệu người B).
Ảnh 2 – 3: Người A cầm vật không rõ đặc điểm vung về phía người B.
Ảnh 4 – 5: Người A và người B giằng co với nhau, sau đó người B ngã ra sàn nhà, màn hình camera bị rung, lắc.
Ảnh 6: Một số người vào can ngăn, ôm đẩy người A.
Ảnh 7 – 10: Người A tiếp tục cầm vật tả trên vung nhiều lần về phía trước, nhiều người can ngăn, người B dùng chân vung nhiều lần về phía người A.
Ảnh 11 – 12: Người B đứng dậy cầm ghế màu đỏ, một số người ôm, kéo người B, người A di chuyển ra phía ngoài khuất tầm quan sát của camera.
Ảnh 13: Trên nền nhà xuất hiện nhiều chất màu đỏ”.
Cơ quan điều tra đã cho Ư và những người có liên quan xem đoạn Video này xác định: Người A chính là Nguyễn Hồng Ư, người B là anh Vũ Tuấn A.
- Ngày 30/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 04 đoạn video do anh Vũ Tuấn A cung cấp, yêu cầu diễn thuyết, in hình ảnh diễn biến hành động của các đối tượng xuất hiện trên các đoạn video; tệp tin cần giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hay không. Tại Bản kết luận giám định số 1905/KL – KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:
“- Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung diễn biến xuất hiện trên bốn tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định. Trích xuất được 23 (hai mươi ba) ảnh diễn biến từ bốn tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định; chi tiết được thể hiện trong Phụ lục giám định.
Ảnh chụp tại video tên 5139438001459.mp4 thể hiện:
Ảnh 1: Xuất hiện người A (mũi tên màu đỏ) mặc quần áo dài tối màu, đang đi sang đường. Người B: mặc quần áo tối màu, đang ngồi cùng một nhóm người.
Ảnh 2, 3: Người A cầm vật X (hình dạng nhỏ, mảnh) có hành động giống như đâm vào người B.
Ảnh 4, 5: Người A và người B (trong khung màu đỏ) xô đẩy, giằng co nhau ngã xuống. Xuất hiện người C chạy đến gần vị trí hai người A, B.
Ảnh 6, 7: Một số người chạy đến vị trí hai người A, B. Trong đó có người D: cầm chiếc ghế đang để dưới đất. Lúc đó người A vẫn đang cầm vật X, giằng co với người khác.
Ảnh 8, 9: Một số người chạy đến người A. Lúc đó người A vẫn đang cầm vật X, giằng co với người khác.
Ảnh 10, 11: Người A cầm vật X đi ra phía ngoài đường. Người D cầm chiếc ghế ném về nhóm người B.
Ảnh 12: Người A cầm vật X đi ra phía ngoài đường.
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Hồng Ư và những người có liên quan xem đoạn Video này xác định: Người A là chính là Nguyễn Hồng Ư, người B là anh Vũ Tuấn A, người C là chị Lê Thị H1, người D là người thanh niên lạ mặt (không xác định được nhân thân, lai lịch).
Ảnh chụp tại video tên 5139443673320.mp4 thể hiện:
Ảnh 13, 14: Xuất hiện 01 người (trong khung màu đỏ) đi sang đường.
Ảnh 15: Xuất hiện một số người (mũi tên màu đỏ) chạy sang đường.
Ảnh 16, 17: Xuất hiện một người (khung màu đỏ) chạy sang đường từ phải sang trái tầm quan sát của camera. Trên tay có hình dạng thanh nhỏ, ngắn.
Ảnh chụp tại video tên 5438292466168.mp4 thể hiện:
Ảnh 18: Xuất hiện hai người X, Y (khung màu đỏ) đang xô đẩy, giằng co với nhau.
Ảnh 19: Xuất hiện người Z tách hai người X, Y ra. Người X cầm trên tay vật K (khung màu đỏ) có hình dạng thanh nhỏ, có động tác như đâm chọc về phía người Z.
Ảnh 20, 21: Người X cầm trên tay vật K có tác động như đâm chọc về phía người Z.
Ảnh 22: Người X cầm trên tay vật K có động tác như đâm chọc về phía người Z. Sau đó một số người tách người X ra xa người Z.
Cơ quan điều tra đã cho Ư và những người có liên quan xem đoạn Video này xác định: Người X là Nguyễn Hồng Ư, Người Y là anh Vũ Tuấn A, Người Z là chị Lê Thị H1.
Ảnh chụp tại video tên 20231219_093333_99.mp4 thể hiện:
Ảnh 23: Hình ảnh giống vết rách da trên chân người”.
- Ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã trưng cầu giám định kỹ thuật số, điện tử đối với 01 chiếc điện thoại Galaxy S21 Ultra 5G của Ư, do chị Nguyễn Thị N (vợ U) giao nộp. Tại Bản kết luận giám định số 120 ngày 09/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Trong ngày 19/12/2023, trên mẫu cần giám định tìm thấy dữ liệu gồm: 24 (hai mươi bốn) cuộc gọi qua ứng dụng Zalo. Chi tiết thể hiện trong File E tên “1.Cuoc goi.xlsx” lưu trong USB kèm theo. 235 (hai trăm ba mươi năm) tin nhắn SMS, Z, Facebook M1 (kèm theo 24,5 MB dữ liệu đính kèm). Chi tiết thể hiện trong file Excel tên “2. Tin nhan SMS, Z, M1.xlsx” và thư mục tên “2. Tin nhan SMS, Z, M1.files” lưu trong USB kèm theo. 2.989 (hai nghìn, chín trăm tám mươi chín) tệp tin video. Tổng dung lượng 8,55 GB. Chi tiết thể hiện trong thư mục tên “4. File video.files” lưu trong USB kèm theo. 138.700 (một trăm ba mươi tám nghìn bảy trăm) tệp tin Hình ảnh. Tổng dung lượng 39,7 GB. Chi tiết thể hiện trong thư mục tên “3. File A2.files” lưu trong USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi điện thoại, cuộc gọi qua ứng dụng Facebook Messenger. Không tìm thấy dữ liệu trên thẻ sim kèm theo. Kèm theo Kết luận giám định: 01(một) USB lưu trữ 48,3 GB dữ liệu được niêm phong dán kín trong túi niêm phong, có dấu đỏ của phòng K và chữ ký của Giám định viên”.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành kiểm tra dữ liệu thu thập được trong 01 (một) USB lưu trữ 48,3 GB và đối chiếu với dữ liệu trên điện thoại di động của Ư. Kết quả điều tra xác định trên điện thoại của Ư không có dữ liệu tin nhắn, cuộc gọi nào liên quan đến vụ án.
* Kết quả thực nghiệm điều tra:
Ngày 27/02/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, trong đó cho bị cáo Ư diễn lại hành vi cầm dao nhọn đâm, chém anh Tuấn A, chị H1 và chị Ngọc A1. Kết quả thấy rằng hành vi của Ư khi thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của Ư tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
*Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, các bị hại gồm Nguyễn Tuấn A3, Lê Thị H1, Lê Ngọc A1 đã được khám điều trị thương tích, chi phí cụ thể như sau:
- Chị Lê Thị H1 đã khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V sau khi điều trị ổn định và được ra viện, chị H1 đã đến Bệnh viện B2, Bệnh viện D2, Bệnh viện D2 và mua thuốc ở nhà thuốc V và H2 để tiếp tục khám, điều trị đối với vết thương của chị H1 (do Nguyễn Hồng Ư gây ra) và đến Bệnh viện B3 để điều trị sỏi thận và niệu quản (bị trước khi U gây thương tích). Trong đó, quá trình khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 19/12/2023 đến ngày 02/01/2024 do anh Vũ Tuấn A chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi hồi phục. Tổng chi phí khám, điều trị: 26.133.894đ. Trong đó, chị H1 đã khám, điều trị tại Bệnh viện B2, tổng chi phí khám, điều trị: 8.004.902đ; tại Bệnh viện D2 (trị sẹo), tổng chi phí khám, điều trị: 11.757.992đ; tại Bệnh viện D2, tổng chi phí khám, điều trị: 3.267.000đ; mua thuốc tại nhà thuốc V1: 400.000đ; mua thuốc tại nhà thuốc H3: 1.725.000đ.
- Anh Vũ Tuấn A bị thương tích nhẹ đã khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 19/12/2023 đến ngày 21/12/2023, tổng chi phí khám, điều trị: 557.368đ. Quá trình điều tra, anh Tuấn A khai quá trình khám, điều trị không phải bố trí người chăm sóc.
- Chị Lê Ngọc A1 bị thương tích nhẹ đã khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 19/12/2023 đến ngày 21/12/2023, tổng chi phí khám, điều trị: 980.602đ. Quá điều tra, chị Lê Ngọc A1 khai trong trình khám, điều trị không phải bố trí người chăm sóc.
Quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Tuấn A, chị Lê Thị H1 và chị Lê Ngọc A1 đều từ chối việc xin lỗi của đại diện gia đình Ước, không nhận bồi thường bất kỳ khoản chi phí gì và đề nghị xử lý Ước theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 08/4/2025, bà Nguyễn Thị T (là mẹ của bị can Ư) đến xin tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 100.000.000đ để bồi thường, khắc phục hậu quả thay bị cáo Ư.
Ý kiến của người tham gia tố tụng:
Bị hại anh Vũ Tuấn A và chị Lê Ngọc A1 vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đã trình bày đầy đủ các nội dung liên quan, anh chị đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T trình bày các nội dung phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ, chị N và bà T đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Ư. Đối với số tiền 500.000.000đ bà T bồi thường cho các bị hại thay cho bị cáo Ư, bà không yêu cầu bị cáo trả lại.
Người bào chữa cho các bị cáo Ư trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo, đề nghị xem xét giảm nhẹ, áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H1 và anh Ngọc A1 đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung, xem xét trách nhiệm của các đối tượng liên quan và xử lý bị cáo Ư về tội “Giết người”.
Người làm chứng: Ông Vũ Văn T2 và anh Nguyễn Hữu T3 vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra trình bày các nội dung phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ông T2 và anh T3 không có ý kiến gì khác và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-P2 ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Hồng Ư về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng Ư phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Ư từ 06 năm đến 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/12/2023.
Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo với bị hại, đại diện bị hại về bồi thường dân sự. Ngoài ra còn đề xuất xử lý về vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Ư khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo khai nhận:
[2.1]. Khoảng 09 giờ ngày 19/12/2023, giữa Nguyễn Hồng Ư và anh Vũ Tuấn A xảy ra mâu thuẫn trong việc đỗ xe (anh Tuấn A cho rằng Ư đỗ xe ảnh hưởng đến việc kinh doanh của gia đình). Do bực tức từ việc mâu thuẫn, nên Ư đã về nhà cầm 01 con dao nhọn dùng để gọt hoa quả có tổng dài 19cm, lưỡi dao dài 10cm, đi bộ đến trước nhà ông Vũ Văn T2, ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để gây thương tích cho anh Tuấn A. Khi đến nhà Ư đến nhà ông T2, thì anh Tuấn A đang ngồi chơi đánh bài cùng ông T2 và anh T3. Ước tay phải cầm dao nhọn đâm một nhát về phía người anh Tuấn A, nhưng do anh Tuấn A phát hiện, phản ứng kịp thời, dùng hai tay đẩy tay cầm dao của Ư, nên Ư không đâm trúng. Theo đà, anh Tuấn A nhổm dậy đẩy Ước ra, thì cả anh Tuấn A và Ư đều ngã ngửa ra nền nhà, bàn ghế nhựa bị đổ. Ước đứng dậy lao về phía anh Tuấn A đang tư thế nằm ngửa thì anh Tuấn A dùng hai chân đạp liên tục về phía Ước. Tay phải Ư cầm dao đâm về phía anh Tuấn A, trúng 02 nhát vào vùng đầu gối chân phải của anh Tuấn A, làm anh Tuấn A bị rách da, chảy máu.
[2.2]. Lúc này, chị H1 thấy chồng là anh Tuấn A bị đánh, nên chị H1 chạy vào can ngăn và đứng đối diện phía bên tay phải đang cầm dao của Ư. Chị H1 dùng hai tay đẩy vào hai tay của Ư để can ngăn, nhưng Ư vẫn đang đâm về phía anh Tuấn A, thì nhát dao này đã đâm trúng vào bụng trái chị H1. Chị H1 vẫn tiếp tục dùng tay trái giữ vào cánh tay phải (đang cầm dao) của Ư, tay phải chị H1 giữ vào tay trái Ư, hai bên giằng co nhau, chị H1 muốn đẩy Ước ra xa, còn Ư thì muốn đẩy chị H1 ra xa để tấn công anh Tuấn A (lúc này anh Tuấn A vẫn đang nằm ngửa dưới nền nhà, dùng hai chân đạp liên tục về phía Ước). Khi bị Ư đâm vào bụng trái, thì chị H1 bỏ tay trái ra khỏi tay Ư để ôm bụng, tay phải chị H1 vẫn giữ vào tay trái Ư, thì Ư vung dao chém 02 nhát vào tay phải chị H1 (01 nhát trúng vào cổ tay phải và 01 nhát trúng vào ngón cái tay phải). Chị H1 du đẩy Ư về phía sau, thì Ư dùng tay trái nắm vào ống tay áo trái chị H1, kéo chị H1 tránh sang một bên, làm chị H1 ngã lùi về phía sau. Ước tiếp tục tiến lên để tấn công anh Tuấn A vẫn đang nằm dưới vỉa hè đạp chân về phía Ước, thì chị Lê Ngọc A1 là em gái chị H1 chạy đến can ngăn.
[2.3]. Chị Ngọc A1 đứng đối diện bên tay phải (đang cầm dao) của Ư để can ngăn, thì bị Ư xô ngã ngồi xuống nền. Anh Tuấn A vẫn dùng chân đạp về phía Ước, Ư vung dao tiếp tục đâm về phía anh Tuấn A thì đâm trúng lòng bàn tay trái của chị Ngọc A1 giơ lên đỡ. Sau đó, Ư tiếp tục cầm dao tiến về phía trước và tiếp tục thực hiện động tác đâm về phía chân anh Vũ Tuấn A đang đạp nhưng không trúng anh Tuấn A, đồng thời bị anh Tuấn A dùng chân đạp lại trúng vào tay cầm dao của Ư, làm lưỡi dao lệch hướng đâm một phát trúng vào gối chân trái của Ư gây rách da, chảy máu. Cùng lúc này mọi người có mặt ở đó lao vào can ngăn thì Ư đi về.
[2.4]. Hậu quả: Chị H1 bị thương tích rách tĩnh mạch gan trái; vết thương vùng cổ tay bên phải kích thước 4cm, vết thương kích thước 2cm đầu ngón I bàn tay phải, tổn hại sức khoẻ là 37%; anh Tuấn A bị thương tích mặt ngoài và mặt trong cẳng chân phải, tổn hại sức khoẻ là 3%; chị Ngọc A1 bị thương tích rách da tại vị trí ô mô cái bàn tay trái, tổn hại sức khoẻ là 1%.
[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
[3.1]. Hành vi của Ư mặc dù có tính chất côn đồ, sử dụng hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho 03 người, trong đó chị Lê Thị H1 bị vào vùng bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể con người. Tuy nhiên, trong vụ việc này mâu thuẫn chính là giữa Ư và anh Tuấn A, mục đích của Ư là muốn đâm, chém gây thương tích cho anh Tuấn A cho bõ tức, Ư không có ý định tước đoạt tính mạnh của anh Tuấn A. Khi chị H1 và chị Ngọc Al vào can ngăn bị cáo đâm, chém về phía 03 người, mục đích chính gây thương tích cho anh Tuấn A, bị cáo không nhằm vào vị trí nào trên cơ thể người bị đâm, chém. Thực tế anh Tuấn A, chị H1 và chị Ngọc A1 chỉ bị thương tích (tổng thưởng tích của cả 03 người là 41%).
[4]. Do đó, có đủ cơ sở để xác định hành vi của Ư đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm ...
i) Có tính chất côn đồ;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;”.
[5]. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính chất nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của người khác, ảnh hưởng đến trật tự và an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm để răn đe, trấn áp đối với loại tội phạm này.
[6]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
[6.1]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6.2]. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền là 100.000.000đ, tại phiên tòa bị cáo tiếp tục tác động để gia đình bồi thường thêm số tiền 400.000.000đ, để khắc phục hậu quả cho bị hại (bồi thường dân sự toàn bộ theo yêu cầu của bị hại). Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra năm 2023 và năm 2024, bị cáo ủng hộ kinh phí xây dựng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo thị trấn T huyện V tổng số tiền 4.000.000đ, bị cáo có ông nội là cụ Nguyễn Văn C tham gia kháng chiến chống Mỹ, do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6.3]. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Nhưng như phân tích ở trên, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi thể hiện tính chất nguy hiểm, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại trại giam, với mức án như đề nghị của địa diện Viện kiểm sát mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7]. Ý kiến của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đề nghị trả hồ sơ và xử lý bị cáo về tội giết người là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đo được chấp nhận.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, các bị hại của vụ án gồm Vũ Tuấn A, Lê Thị H1 và chị Lê Ngọc A1 đã được khám điều trị thương tích, chi phí cụ thể như sau:
[8.1]. Chị H1 đã khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V sau khi điều trị ổn định và được ra viện, chị H1 đã đến Bệnh viện B2, Bệnh viện D2, Bệnh viện D2 và mua thuốc ở nhà thuốc V và H2 để tiếp tục khám, điều trị đối với vết thương của chị H1 (do bị cáo Ư gây ra) và đến Bệnh viện B3 để điều trị sỏi thận và niệu quản (bị trước khi Ư gây thương tích). Trong đó, quá trình khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 19/12/2023 đến ngày 02/01/2024 do anh Vũ Tuấn A chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi hồi phục. Tổng chi phí khám, điều trị: 26.133.894đ. Trong đó, chị H1 đã khám, điều trị tại Bệnh viện B2, tổng chi phí khám, điều trị 8.004.902đ; tại Bệnh viện D2 (trị sẹo), tổng chi phí khám, điều trị 11.757.992đ; tại Bệnh viện D2, tổng chi phí khám, điều trị 3.267.000đ; mua thuốc tại nhà thuốc Việt Bách 400.000đ; mua thuốc tại nhà thuốc Hgroup 1.725.000đ.
[8.2]. Anh Tuấn A bị thương tích nhẹ đã khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 19/12/2023 đến ngày 21/12/2023, tổng chi phí khám, điều trị: 557.368đ. Quá trình điều tra, anh Tuấn A khai quá trình khám, điều trị không phải bố trí người chăm sóc.
[8.3]. Chị Ngọc Al bị thương tích nhẹ đã khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 19/12/2023 đến ngày 21/12/2023, tổng chi phí khám, điều trị: 980.602đ. Quá điều tra, chị Lê Ngọc A1 khai trong trình khám, điều trị không phải bố trí người chăm sóc.
[9]. Quá trình giải quyết vụ án anh Tuấn A, chị H1 và chị Ngọc A1 đều từ chối việc xin lỗi của đại diện gia đình Ước, không nhận bồi thường bất kỳ khoản chi phí gì và đề nghị xử lý Ước theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa chị H1 trình bày về trách nhiệm dân sự, chị đứng ra nhận ủy quyền của chồng chị là anh Tuấn A và em gái ruột là chị Ngọc A1 để giải quyết toàn bộ về dân sự. Chị H1 (thông qua Luật sư T1) yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về dân sự với tổng số tiền 500.000.000đ; trong đó bồi thường cho chị 480.000.000đ (gồm chi phí điều trị, mua thuốc, mất thu nhập của chị và người chăm nuôi, bồi dưỡng sức khỏe, tổn thất tinh thần); bồi thường cho anh Tuấn A số tiền 10.000.000đ, chị Ngọc Al số tiền 10.000.000đ. Ngoài ra chị H1, anh Tuấn A và chị Ngọc A1 không có bất kỳ yêu cầu nào khác về dân sự. Bị cáo Ư đồng ý bồi thường dân sự cho các bị hại, theo yêu cầu của chị H1 (thông qua Luật sư T1). Tại phiên tòa (ngày 30/6/2025) bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ bị cáo U) đứng ra bồi thường thay cho bị cáo, bà T đã thanh toán cho chị H1 số tiền 400.000.000đ (Luật sư T1 được chị H1 ủy quyền nhận số tiền trên, Luật sư T1 đã nhận đủ tiền và viết giấy biên nhận đề ngày 30/6/2025).
[9.1]. Sau khi nhận đủ số tiền 400.000.000đ tại phiên tòa, chị H1 thông qua luật sư Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo Ư phải có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại là 100.000.000đ cho chị và anh Tuấn A, chị Ngọc A1. Do đó, cần buộc bị cáo Ư phải bồi thường dân sự tiếp cho chị H1 số tiền 80.000.000đ, anh Tuấn A 10.000.000đ và chị Ngọc A1 10.000.000đ. Quá trình điều tra ngày 08/4/2025, bà T là mẹ đẻ của bị cáo Ư, đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 100.000.000đ để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho Ư. Hiện số tiền trên đã được nộp vào tài khoản của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Phúc, do vậy sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị H1, anh Tuấn A và chị Ngọc A1 có quyền liên hệ với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Phúc để nhận số tiền trên. Trong đó chị H1 được nhận 80.000.000đ, anh Tuấn A và chị Ngọc A1 mỗi người được nhận số tiền 10.000.000đ.
[10]. Đối với khoản tiền 500.000.000đ mà bà T đã đứng ra bồi thường thay cho bị cáo Ư, do bà T không yêu cầu bị cáo Ư hoàn trả lại số tiền trên, do vậy Tòa không xét.
[11]. Về xử lý vật chứng:
[11.1]. Đối với 01 con dao có tổng chiều dài 19cm, có một lưỡi sắc bằng kim loại, đầu dao nhọn, chuôi dao bằng nhựa màu cam dài 09cm, phần lưỡi dao dài 10cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 2,5cm là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 quần dài màu đen, 01 áo len màu vàng, dạng cổ lọ và 01 áo khoác len màu xám không rõ nhãn hiệu anh Vũ Tuấn A đã giao nộp. Anh Tuấn A không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 04 ghế nhựa và 01 bàn nhựa đã cũ thu tại hiện trường, không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy .
[11.2]. Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trích xuất từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị Hương G1, sinh năm 1995; trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, Vĩnh Phúc (con ông bà T2 - Tuyết) 01 đoạn video, dung lượng 8,4MB (8,815,235 bytes) lưu trong 01 (một) đĩa CD-R, niêm phong trong phong bì thư dán kín được lưu kèm theo hồ sơ. Ngày 16/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã thu giữ của anh Tuấn A 04 đoạn video có nội dung liên quan, tổng dung lượng 23,9MB (25,069,206 bytes), lưu trong 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston, niêm phong trong phong bì thư dán kín. Ngày 16/5/2024, anh Tuấn A cung cấp cho Cơ quan CSĐT 04 đoạn video khác do anh thu thập được từ nguồn camera từ các hộ gia đình: Hộ Giảng - Nguyệt, hộ M - Dĩ, hộ T2 - Tuyết, có tên 20231219_093333_99.mp4,5139438001459.mp4,5139443673320.mp4,5438292466168.mp4 có nội dung thể hiện một số diễn biến liên quan đến vụ án, do đó được lưu kèm theo hồ sơ.
[11.3]. Ngày 02/12/2024, chị Nguyễn Thị N (vợ U) đã giao nộp 01 chiếc điện thoại Galaxy S21 Ultra 5G của Ư. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Ư, cần trả lại cho Ư, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[12]. Kết qủa điều tra còn xác định: Quá trình điều tra vụ án, anh Tuấn A, chị H1, chị Ngọc A1 đề nghị Cơ quan CSĐT điều tra làm rõ các đối tượng có mặt tại hiện trường vụ án, nghi vấn là đồng phạm giúp sức cho hành vi phạm tội của bị cáo Ư. Trên cơ sở rà soát, giám định, trích xuất hình ảnh từ nguồn video camera tại khu vực hiện trường, kết quả làm việc với anh Tuấn A, chị H1, chị Ngọc A1; nhân chứng có mặt tại hiện trường thời điểm xảy ra vụ án và các hộ dân hai bên đường gần hiện trường xác định: Sáng 19/12/2023, khi Ư cầm dao đi bộ sang nhà ông Vũ Văn T2 để tấn công anh Tuấn A, thì Ư đi bộ 1 mình. Tại khu vực xảy ra vụ án, ngoài Ư, anh Tuấn A còn có ông T2, anh Nguyễn Hữu T3, sau đó còn có chị H1, chị Ngọc A1, anh Nguyễn Trường G, chị Nguyễn Thị N, anh Lê Văn D, sinh năm 1994; trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và 04 người nam giới lạ mặt chạy sang.
[12.1]. Trong quá trình Ư dùng dao đâm anh Tuấn A, chị H1, chị Ngọc Al thì ông T2, anh T3 can ngăn; chị N, anh D và 04 nam giới lạ mặt (không rõ lai lịch) đều không có hành động gì giúp sức. Đến khi ông T2 và anh T3 can ngăn và đẩy được Ư ra, thì Ư bỏ chạy sang phía cửa hàng đại lý Thúy B1. Lúc này tại hiện trường có một nam giới lạ mặt (trong số 04 người lạ mặt nêu trên, ký hiệu D trong bản ảnh giám định camera thu tại hiện trường), tay phải cầm 01 ghế nhựa màu xanh ném về phía nhóm anh Tuấn A, trúng vai anh Tuấn A nhưng không gây thương tích cho ai; sau đó người nam giới lạ mặt này chạy ra đường sang phía bên đường đối diện và cầm ra 01 cây phóng lợn thì gặp chị N (vợ U), bà Lý Thị Minh N2, sinh năm 1975; trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (mẹ của D) can ngăn, rồi bà N2 giằng lấy cây phóng lợn của người nam giới này. Quá trình điều tra làm việc với bị cáo, các bị hại, những người có mặt khi xảy ra vụ án, người chứng kiến khác và 18 người dân sinh sống hai bên đường xung quanh khu vực hiện trường vụ án, và cho những người này xem video camera có hình ảnh 04 người lạ mặt nêu trên, thì bị cáo và tất cả mọi người đều không ai nhận ra, không xác định được tên, nhân thân, địa chỉ của 04 đối tượng lạ mặt này là ai, ở đâu. Bị cáo Ư khai hành vi phạm tội của Ư là bộc phát, không bàn bạc với ai, không bị ai xúi giục, không có ai giúp sức.
[13]. Mở rộng điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã có văn bản gửi Tập đoàn C1 để rút list đối với số thuê bao 0369.225.890, 0989.000.590 của Ư và số thuê bao 0961.966.288 của chị Nguyễn Thị N. Kết quả rút list: Trước thời điểm xảy ra vụ án: Số thuê bao 0369.225.890 phát sinh 03 cuộc gọi đi, 12 cuộc gọi đến; số thuê bao 0989.000.590 phát sinh 04 cuộc gọi đi, 16 cuộc gọi đến; số thuê bao 0961.966.288: Không phát sinh cuộc gọi. Cơ quan điều tra đã kiểm tra xác minh từng cuộc gọi đi, cuộc gọi đến nêu trên từ các số điện thoại nêu trên của Ư, chị N với 29 số điện thoại khác và thu thập thông tin chủ thuê bao. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh, làm việc và ủy thác điều tra đến Cơ quan CSĐT Công an các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Lai Châu, Hưng Yên, Điện Biên để xác minh, làm việc đối với các cá nhân đứng tên sử dụng thuê bao, thu thập ảnh nhận dạng các cá nhân là nam giới và tiến hành cho bị cáo, các bị hại, một số nhân chứng nhận dạng, kết quả bị cáo và những người khác đều xác định không có ai trong số 04 nam giới lạ mặt như đã nêu trên, giống những người có các số điện thoại mà Cơ quan điều tra đã nắm được qua xác minh, uỷ thác điều tra. Do vậy, việc Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ nhân thân, địa chỉ của 04 nam giới lạ mặt này sẽ xem xét, xử lý sau là phù hợp.
[14]. Về án phí: Bị cáo Ư phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng U phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Ư 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/12/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Ư phải bồi thường dân sự cho chị Lê Thị H1, anh Vũ Tuấn A và chị Lê Ngọc A1 với tổng số tiền 500.000.000đ; trong đó bồi thường cho chị H1 số tiền 480.000.000đ, bồi thường cho anh Vũ Tuấn A số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho chị Lê Ngọc A1 số tiền 10.000.000đ. Xác nhận ngày 30/6/2025 bị cáo đã bồi thường cho chị H1 số tiền 400.000đ (do bà T là mẹ đẻ bị cáo Ư đứng ra bồi thường thay cho bị cáo).
Bị cáo Nguyễn Hồng Ư còn phải bồi thường dân sự tiếp cho chị Lê Thị H1 số tiền 80.000.000đ, bồi thường cho anh Vũ Tuấn A và chị Lê Ngọc A1 mỗi người số tiền 10.000.000đ.
Xác nhận ngày 08/4/2025, bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của bị cáo Ư đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 100.000.000đ để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho các bị hại thay cho bị cáo Ư. Hiện số tiền trên đã được nộp vào tài khoản tạm giữ của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Lê Thị H1, anh Vũ Tuấn A và chị Lê Ngọc Al có quyền liên hệ với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Phúc để nhận số tiền trên (Trong đó chị H1 được nhận 80.000.000đ, anh Tuấn A và chị Ngọc A1 mỗi người được nhận số tiền 10.000.000₫).
3. Về xử lý vật chứng sự: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 con dao có tổng chiều dài 19cm, có một lưỡi sắc bằng kim loại, đầu dao nhọn, chuôi dao bằng nhựa màu cam dài 09cm, phần lưỡi dao dài 10cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 2,5cm là công cụ phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy đối với 01 quần dài màu đen, 02 áo len thu, 04 ghế nhựa và 01 bàn nhựa (đều đã cũ).
- - Trả lại Nguyễn Hồng Ư 01 chiếc điện thoại Galaxy S21 Ultra 5G đã cũ không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Ư phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Quang Bằng |
Hoàng Thanh Trà |
Nguyễn Xuân Trọng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo Nguyễn Hồng Ước phạm tội Cố ý gây thương tích
