TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày: 26-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lân và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Đức Nhã - Kiểm sát viên .
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2025/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Xuân L, sinh ngày 15/5/1995, tại thành phố H; căn cước công dân số [...], cấp ngày 15/12/2023, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: P, H, chung cư B, phường P, quận P, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1967; vợ con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án, năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 112/2017/HSST ngày 24/5/2017). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2017, chưa chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2013, bị Công an phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 375.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 085 ngày 15/5/2013).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 29/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Hoàng Thị Minh T, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Q, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 20/10/2024, Lê Xuân L đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Hoàng Thị Minh T nhờ L mua giúp ma túy loại hồng phiến để sử dụng, L đồng ý và hẹn T đến quán cà phê gần nhà, tại đây T đưa cho L số tiền 150.000 đồng để mua ma túy. Sau đó L đón xe ôm đi lên đường T, phường Đ, quận P, thành phố H để tìm người mua ma túy. L đi bộ vào đường T thì gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 450.000 đồng ma túy loại hồng phiến thì người phụ nữ này đồng ý bán cho L 28 (hai mươi tám) viên ma túy loại hồng phiến để trong 01 (một) túi ni lông, mua được ma túy L đi ra đón xe ôm và về thuê phòng 202 Nhà nghỉ H1 ở phường P, quận T, thành phố H, vào phòng L một mình dùng dụng cụ rồi lấy ma túy ra và sử dụng hết 13 (mười ba) viên ma túy, số ma túy còn lại L chia ra bỏ trong 01 (một) túi ni lông 05 (năm) viên là phần của T nhờ mua giúp và 10 viên phần của L và để trên bàn.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, L nhận được điện thoại của T đang hỏi ở đâu để đến lấy ma túy, L hẹn T đến nơi L đang thuê phòng, khi gặp nhau tại phòng 202, T tự lấy 05 (năm) viên hồng phiến đang để trên bàn rồi đi về. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày khi L đang ở trong phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ 10 (mười) viên nén màu đỏ. Lê Xuân L khai nhận số viên nén màu đỏ trên đều là ma túy loại hồng phiến được L mua của người khác để bản thân sử dụng.
Kết quả kiểm tra nước tiểu phát hiện Lê Xuân L dương tính với chất ma túy.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- - 10 (mười) viên nén màu đỏ;
- - 01 (một) bật lửa ga;
- - 01 (một) chai nhựa màu trắng trong;
- - 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 8 imei: 352982090802656;
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng làm ống hút,
* Tại Bản Kết luận giám định số 755 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 10 (mười) viên nén đều có dạng trụ tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 0,9033g (không phẩy chín không ba ba gam), là túy, loại Methamphetamine.
Sau khi giám định Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ:
- + 0,7533g (không phẩy bảy năm ba ba gam) mẫu bột được nghiền từ 10 (mười) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ (nêu tại mục 1, phần II);
- + Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tất cả đều được niêm phong theo quy định.
* Về xử lý vật chứng: Không.
2
Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKSQTH ngày 26 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa truy tố bị cáo Lê Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt Lê Xuân L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, số imei: 352982090802656
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H (nay là quận T), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến, khiếu nại gì, nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/10/2024, tại Nhà nghỉ H1 ở tổ dân phố L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H), Lê Xuân L có hành vi tàng trữ trái phép 0,9033g (không phẩy chín không ba ba gam) ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, thì bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra Lê Xuân L còn có hành vi mua giúp Hoàng Thị Minh T 05 (năm) viên ma túy, loại Methamphetamine không nhằm mục đích sử dụng chung hoặc hưởng lợi gì khác với khối lượng là 0,4582g (không phẩy bốn năm tám hai gam).
Bị cáo L là người đi mua hộ ma túy cho Hoàng Thị M T nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số khối lượng chất ma túy đã mua cho bản thân và mua hộ. Do đó, Lê Xuân L phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma túy là 0,9033g + 0,4582g = 1,3615g (Một phẩy ba sáu một năm gam).
3
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa đã truy tố.
[3]. Xét căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Methamphetamine là chất ma tuý gây nghiện, rất nguy hiểm cho sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm tàng trữ trái phép; hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với Hoàng Thị Minh T là người đã nhờ bị cáo L mua giúp ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã khởi tố, điều tra trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy còn lại đã qua giám định là chất độc hại cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy cùng bao gói niêm phong khi gửi giám định và các dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng ma túy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 imei: 352982090802656 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng làm ống hút là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy: 0,7533g (không phẩy bảy năm ba ba gam) mẫu bột được nghiền từ 10 (mười) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ cùng bao gói niêm phong gửi giám định; 01 (một) bật lửa ga; 01 (một) chai nhựa màu trắng trong;
- Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 8 imei: 352982090802656;
- Về án phí : Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (Ngày 21/10/2024).
Các vật chứng trên được xác định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa.
Buộc bị cáo Lê Xuân L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Hạnh |
5
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
