Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HS-ST

Ngày: 25-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

-

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2025/TLST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Gia Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04/4/1995; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số G T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Đặng Văn S, sinh năm 1966 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1972; vợ: Trần Thị Thùy D, sinh năm 1995, con: Có 02, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh L- Phân trại B từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Lê Khánh T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/11/1999; tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký thường trú: Ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh và nơi cư trú: Hẻm S Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1975 và bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1976; vợ: Thạch Thị T2, sinh năm 2004, con: Có 01 sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh L- Phân trại B từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn T3, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12/9/1998; tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký thường trú: Khóm C, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và nơi cư trú: Hẻm S Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Sa P, sinh năm 1974; vợ: Nguyễn Thị Hồng D1, sinh năm 1998, con: Có 01 sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh L- Phân trại B từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Xuân N1, tên gọi khác: Không, sinh ngày 23/6/1999; tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa và nơi cư trú: Số E Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; con ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1976; vợ: Võ Thị Kim T5, sinh năm 2000, con: Có 01 sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh L- Phân trại B từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

5. Họ và tên: Nguyễn Hoàng H2, tên gọi khác: Không, sinh ngày 07/10/1994; tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ và nơi cư trú: Hẻm S Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1969 và bà Phan Thị Mỹ L1, sinh năm 1970; vợ: Nguyễn Hà Ngân T7, sinh năm 2001, con: Có 01 sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh L- Phân trại B từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

6. Họ và tên: Nguyễn Trọng L2, tên gọi khác: Không, sinh ngày 02/8/2001; tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre và nơi cư trú: Hẻm S Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên; con ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1976 và bà Trương Kim N2, sinh năm 1976; vợ, con con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh L- Phân trại B từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 1995; địa chỉ: số G T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 18/01/2025 anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993, nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng cùng với Nguyễn Công H3, sinh năm: 1989, nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đến quán K1 tại số G, đường M, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để hát karaoke. Đến quán Đ và H3 được nhân viên quán sắp xếp vào phòng hát số 5 ở tầng trệt, Đ và H3 gọi 02 nhân viên nữ của quán K1 vào ngồi rót bia và hát cùng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì H3 đi về trước, còn Đ ở lại một mình tiếp tục hát. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, do thấy phòng số 5 hát đã lâu mà chưa thanh toán tiền nên Lê Khánh T (là quản lý của quán) nói nhân viên quán là Nguyễn Xuân N1 đến phòng số 5 đề nghị Đông nghỉ hát để thanh toán. Sau đó Đ nghỉ hát và đi ra tính tiền thì được nhân viên thu ngân thông báo cho anh Đ hóa đơn tiền hết 12.628.000 đồng (bao gồm 6.628.000 đồng tiền giờ hát, tiền dịch vụ ăn uống và 6.000.000 đồng phí phục vụ của 02 nhân viên nữ). Tuy nhiên, lúc này Đ không có tiền trả và cũng không mang theo điện thoại hay giấy tờ tùy thân nên N1 báo sự việc cho T biết. Sau đó, Đ đi ra ngồi ở ghế đá trước vỉa hè của quán và đề nghị được đi về nhà lấy tiền để thanh toán nhưng T không đồng ý và yêu cầu Đ phải liên hệ người nhà mang tiền đến để thanh toán nhưng Đ không liên hệ được với người nhà.

Khoảng 30 phút sau, Đặng Gia Q cùng vợ là Trần Thị Thùy D, sinh năm 1995 (là chủ quán karaoke) đến quán và được T báo lại sự việc trên, khi nghe như vậy thì Q đi đến chỗ Đ ngồi, lúc này Đ vẫn đang ngồi ở ghế đá trước cửa quán, xung quanh Đ có Lê Khánh T cùng 02 nhân viên quán là Nguyễn Xuân N1 và Nguyễn Văn T3, Q hỏi Đ: “tiền bạc sao vậy anh” thì Đ trả lời: “đợi xíu đi”, lúc này Q yêu cầu Đ đưa số điện thoại của người nhà để liên lạc mang tiền đến thanh toán nhưng không được. Lúc này giữa hai bên tiếp tục tranh cãi, do sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh của quán nên Q nói T cùng hai nhân viên là T3 và N1 đang đứng gần Nguyễn Văn Đ là: “đưa nó vào trong quán”. Sau đó T dùng tay kéo và yêu cầu Đ đứng lên đi vào trong quán nhưng Đ vùng vằng không chịu. Thấy vậy, Nguyễn Xuân N1 dùng chân phải đá 01 cái trúng vào người của Đ còn Nguyễn Văn T3 cũng dùng chân phải đá 01 cái trúng vào vùng bụng của Đ, sau đó T3 tiếp tục dùng tay phải nắm vào cánh tay trái của Đ và kéo đi vào quán K còn Q, N1, T đi phía sau T3 và Đ, khi đến trước cửa quán thì Đ tiếp tục vùng vẫy không chịu đi vào nên T3 tiếp tục dùng tay trái đánh vào đầu rồi dùng chân đạp vào hông phải của Đ và tiếp tục dùng tay kéo Đ vào trong quán, N1 cũng dùng tay nắm tóc anh Đ kéo, T đẩy từ phía sau làm Đ té ngã xuống đất, sau đó N1, T kéo Đ đưa vào phòng số 1 ở phía sau quầy lễ tân, T3 tiếp tục đạp nhiều cái vào người Đ còn Q đi theo phía sau. Khi vào phòng số 1 thì Q, T3, N1, T tiếp tục nói chuyện, yêu cầu Đ trả tiền nhưng không được nên tất cả đi ra và đóng cửa lại để Đ một mình trong phòng.

Đến khoảng hơn 20 giờ 00 phút có đoàn công tác liên ngành đến kiểm tra về ma túy quán Karaoke nên nhân viên của quán vào mở cửa cho Đ đi ra ngồi ở ghế đá trước quán và vẫn có nhân viên trông coi. Đến khoảng 21 giờ 00 phút khi đoàn kiểm tra rời đi thì lúc này Đ vẫn đang ngồi ghế đá, xung quanh Đ có Q, N1, Nguyễn Trọng L2 (nhân viên quán) và Nguyễn Hoàng H2 là bạn của Q đến quán Karaoke chơi đứng xung quanh. Lúc này Q tiếp tục nói chuyện, yêu cầu Đ trả tiền hát nhưng Đ vẫn không có tiền và tiếp tục vùng vằng bỏ đi, lúc này N1 cùng với H2 giữ Đ lại rồi H2 dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt trái của Đ, còn N1 dùng chân đạp vào vùng mặt Đ và cùng với H2 kéo Đ ở khu vực ghế đá trước cửa quán vào lại trong quán, lúc này có thêm Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Trọng L2 cũng đang ở trong quán, thấy vậy chạy ra cùng với H2 và N1 khiêng Đ vào lại phòng số 1, còn Q đi theo sau, khi Đ bị khiêng vào trong phòng số 1 và đóng cửa lại. Đến khoảng 2 giờ 00 phút sáng ngày 19/01/2025, Q quay lại quán kiểm tra thì Đ vẫn còn ở quán và chưa thanh toán tiền hát nên tiếp tục giữ Đ ở lại phòng số 1, đến khoảng 5 giờ 00 phút sáng cùng ngày Q tiếp tục quay lại quán Karaoke và nói T3 mở cửa phòng số 1 để kiểm tra thì thấy Đ vẫn đang ở đây nên nói T3 đóng cửa và khóa cửa lại. Sau đó Q nói T3 ở lại trông quán và trông Đ còn Q về nhà ngủ, T3 cũng kéo ghế sofa nằm chặn trước cửa phòng số 1 và ngủ tại đây. Đến 8 giờ 00 phút sáng ngày 19/01/2025 chị Nguyễn Thị H4 (chị gái Nguyễn Văn Đ) cùng Công an P1, thành phố B đến quán K1 kiểm tra và yêu cầu T3 mở cửa phòng số 1 ra thì thấy Đ đang ngủ tại đây nên Công an P1 tiến hành lập biên bản vụ việc. Hậu quả: anh Nguyễn Văn Đ bị vết thương sưng nề vùng chẩm trái, mắt trái bầm tím, tổn thương nông tác động nhiều vùng trên cơ thể, tổn thương lồng ngực, tổn thương nông ở đầu.

Tại kết luận giám định thương tích số 88/KLTTCT-PVPYQG ngày 26/4/2025 của V - Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ như sau:

  • - Sưng nề vùng chẩm trái, bầm mắt trái, sưng nề ngực trái hiện không còn dấu vết: 0%.
  • - Gãy cung trước xương sườn II, III, VII, VIII, IX bên trái đã can xương: không đủ cơ sở xác định có phải do chấn thương vào ngày 18/01/2025 gây ra hay không nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
  • - Hai mắt thị lực 10/10 sau chỉnh kính, tật khúc xạ nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ tại thời điểm giám định là 0%. Thương tích do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Anh Nguyễn Văn Đ đồng ý với kết luận giám định thương tích, không có ý kiến gì.

Tại Văn bản số 876/BVIILÐ-KHTH ngày 12/6/2025 của Bệnh viện I trả lời: Căn cứ trên phim chụp X-Quang của bệnh nhân Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993, địa chỉ: Xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, nhập khoa mắt ngày 19/01/2025. Xương sườn số 8 bên trái không gãy.

Tại kết luận giám định kỹ thuật số số 120/KL-KTHS ngày 28/3/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: 08 F Clip gửi giám định không phát hiện dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa. Diễn biến hành động từng người xuất hiện trong File Video Clip gửi giám định được phân tích trong bản Phụ lục số 120/PL-KTHS kèm theo kết luận giám định.

Bản Cáo trạng số 86/CT-VKSBL, ngày 03 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo bị cáo Đặng Gia Q, Lê Khánh T, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Hoàng H2 và Nguyễn Trọng L2 về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Gia Q, Lê Khánh T, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Hoàng H2 và Nguyễn Trọng L2 phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Gia Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Khánh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  5. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố B đã thu giữ:

Đối với 01 đầu thu dữ liệu Camera nhãn hiệu HIKVISON, Model: DS7616NXIK1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của Trần Thị Thùy D. Đây là tài sản của chị D không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho chị D.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus của Lê Khánh T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promaxx của Nguyễn Hoàng H2. Đây là tài sản của hai bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T và H2 nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, 06 bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 60.000.000 đồng, anh Đ không yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự nên không xem xét.

Đối với số tiền dịch vụ là 12.628.000 đồng anh Nguyễn Văn Đ hát Karaoke chưa thanh toán. Tại phiên tòa chị Trần Thị Thùy D không yêu cầu anh Đ trả lại số tiền này nên không xem xét.

+ Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Thùy D trình bày: Chị là chủ quán K1. Đối với số tiền dịch vụ là 12.628.000 đồng anh Nguyễn Văn Đ hát Karaoke chưa thanh toán. Tại phiên tòa chị Trần Thị Thùy D không yêu cầu anh Đ trả lại số tiền này.

+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Đặng Gia Q, Lê Khánh T, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Hoàng H2 và Nguyễn Trọng L2 đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung Kết luận giám định; lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 40 phút ngày 18/01/2025 đến 08 giờ 14 phút ngày 19/01/2025 tại quán K1; địa chỉ số G M, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đặng Gia Q, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Trọng L2, Lê Khánh T và Nguyễn Hoàng H2 đã thực hiện hành vi bắt, giữ trái pháp luật anh Nguyễn Văn Đ tại phòng số 1 quán K1.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân, danh dự của con người. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bắt, giữ người trái pháp luật bị phám luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, nhằm mục đích buộc bị hại phải thanh toán số tiền hơn 12.628.000 đồng đã sử dụng dịch vụ quán K1 nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm. Các bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường thiệt hại; bị hại cũng có lỗi một phần và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất mức độ của các bị cáo như sau: Các bị cáo không có sự bàn bạc, không phân công trách nhiệm bắt, giữ anh Đ nên tính chất mực độ ngang nhau.

[8] Căn cứ vào qui định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[9] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Đối với 01 đầu thu dữ liệu Camera nhãn hiệu HIKVISON, Model: DS7616NXIK1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của Trần Thị Thùy D. Đây là tài sản của chị D không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho chị D.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus của Lê Khánh T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promaxx của Nguyễn Hoàng H2. Đây là tài sản của hai bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T và H2 nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[11] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, 06 bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền bồi thường 60.000.000 đồng, anh Đ không còn yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự nên không xem xét.

Đối với số tiền dịch vụ là 12.628.000 đồng anh Nguyễn Văn Đ hát Karaoke chưa thanh toán. Tại phiên tòa chị Trần Thị Thùy D không yêu cầu anh Đ trả lại số tiền này nên không xem xét.

[12] Các vấn đề khác:

Đối với hành vi dùng tay, chân đánh anh Nguyễn Văn Đ của các bị cáo Nguyễn Văn T3, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Hoàng H2 để bắt giữ anh Đ vào phòng và giữ lại. Kết luận giám định thương tích xác định thương tích của anh Nguyễn Văn Đ là 0% nên hành vi của các bị cáo không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[13] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[14] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo tuyên bố các bị cáo Đặng Gia Q, Lê Khánh T, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Hoàng H2Nguyễn Trọng L2 phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Gia Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Khánh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.
  5. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho chị Trần Thị Thùy D 01 đầu thu dữ liệu Camera nhãn hiệu HIKVISON, Model: DS7616NXIK1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, số seri: LY7229H6HR (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).

- Trả lại cho bị cáo Lê Khánh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, số Imei: 357136798267226 (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) và trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promaxx, số seri: XWDG93QXLV (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/6/2025 giữa cơ quan Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đặng Gia Q, Lê Khánh T, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Hoàng H2 và Nguyễn Trọng L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (bắt, giữ người trái pháp luật)

  • Số bản án: 86/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Bắt, giữ người trái pháp luật)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q CĐP bắt giữ người trái PL
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger