|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày 24 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt và ông Phạm Ngọc Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T (Bột),
sinh ngày 28/7/1989 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số F, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Tổ G, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng T1 và bà Nguyễn Thị Thu H (chết); vợ là Nguyễn Kim Q (đã ly hôn); có 01 con: sinh năm 2015.
Quá trình nhân thân: Ngày 01/02/2012 bị Ủy ban nhân dân thành phố L quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng. Ngày 11/11/2013 chấp hành xong.
Tiền án:
- - Ngày 09/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù.
- - Ngày 29/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 08/12/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/3/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L - Trại tạm giam Công an tỉnh A (nay là P trại tạm giam Chợ M) (có mặt).
Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 (có mặt).
- Bà Lý Thị S, sinh năm 1960 (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1990 (có mặt).
- Ông Mai Đức H2, sinh năm 1962 (có mặt).
- Bà Lê Thị Bạch C, sinh năm 1964 (có mặt).
- Ông Phạm T2, sinh năm 1985 (có mặt).
- Ông Phạm Hồng T3, sinh năm 1950 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
Cùng địa chỉ: Số C, khóm A, phường M, tỉnh An Giang.
Cùng địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
Cùng địa chỉ: Số A, khóm M, phường L, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thanh D, sinh năm 1978 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 28 tháng 3 năm 2025, Nguyễn Thanh T đến cây xăng T4, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang gặp anh Trần An B nhân viên bán xăng mua 10.000 đồng xăng, đem về nhà tổ G, khóm Đ, phường L, sử dụng sinh hoạt.
Đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 29 tháng 3 năm 2025, T khai nhớ lại việc mâu thuẫn trước đó với ông Nguyễn Văn L biết nhà ông L số 148/4, tổ G, khóm Đ, phường L nằm đối diện nhà của T không có ai trong nhà nên T nảy sinh ý định đốt nhà. Thực hiện ý định, T lấy 01 bình cắm hoa, 01 chai thủy tinh màu xanh (loại chai bia không rõ nhãn hiệu) đổ xăng vào và lấy mảnh vải nhét vào miệng chai thủy tinh và bình cắm hoa. Sau đó, T cầm chai thủy tinh và bình cắm hoa có xăng nêu trên ra trước cửa nhà, tay trái T cầm bình cắm hoa, tay phải T cầm bật lửa đốt vào mảnh vải phần miệng bình cắm hoa, khi vải cháy, T ném bình cắm hoa lên trên gác gỗ nhà của ông L. Sau đó, T tiếp tục dùng bật lửa đốt chai thủy tinh chứa xăng còn lại ném vào nhà của T nhưng không cháy. Lúc này, bà Nguyễn Thanh D phát hiện nhà ông L bị cháy, nên tri hô cho mọi người xung quanh và gọi điện thoại thông báo cho Nguyễn Thị Kim M biết sự việc và báo lực lượng chức năng đến dập lửa, riêng T bỏ chạy. Sau khi đám cháy được dập tắt, tài sản thiệt hại gồm toàn bộ căn nhà của ông Nguyễn Văn L cùng những đồ vật bên trong nhà, đồng thời cháy lan sang làm hư hỏng hai căn nhà liền kề của anh Mai Đức H2 và ông Phạm T2, gây tổng thiệt hại về tài sản 324.141.000 đồng.
* Kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L:
- - 01 căn nhà (8m x 17,3m), nền xi măng, gác gỗ; kết cấu khung gỗ, vách tole (tôn), mái tol, được xây dựng năm 1988, bị cháy hoàn toàn, giá trị còn lại 50%, trị giá 138.584.000 đồng.
- - 01 xe mô tô biển số 67B2 - 642.08 kiểu dáng Wave Alpha, số máy: HC09E5424191, số khung: RLHHC09007Y324087 bị cháy còn trơ khung sắt, giá trị còn lại 60% trị giá 11.265.000 đồng.
- - 01 xe mô tô biển số 67L2 – 1723 kiểu dáng Wave, số máy 000429, số khung 000429 bị cháy còn trơ khung sắt, giá trị còn lại 50% trị giá 3.775.000 đồng.
- - 01 xe kéo làm bằng sắt 200cm x 110cm x 90cm (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi còn trơ khung sắt: không có cơ sở định giá.
- - 01 máy xay nước đá chất liệu sắt (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi còn trơ khung sắt: không có cơ sở định giá.
- - 01 máy xay cá chất liệu gang - sắt (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi còn trơ khung: không có cơ sở định giá.
- - 01 máy nhồi cá chất liệu inox (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi còn trơ khung: không có cơ sở định giá.
- - 01 máy lọc nước tích hợp nóng lạnh nhãn hiệu Robot (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - 01 nệm cao su hiệu Kymdan 160cm x 200cm x 20cm mua vào năm 2010 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - 01 tủ lạnh nhãn hiệu Sanyo dung tích 205 lít (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - 01 máy lạnh nhãn hiệu Mitsumitshi, công suất 1,5 ngựa, mua năm 2017 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi, giá trị còn lại 50% trị giá 5.795.000 đồng.
- - 150 chiếc cần xé làm bằng chất liệu tre, công năng chứa đựng khoảng 60kg (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - 80 khay nhựa 60cm x 40cm x 15cm (đã qua sử dụng), bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - 30 thùng nhựa hình trụ tròn, màu xanh dung tích 120 lít dùng để muối cá (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - 07 thùng nhựa màu cam (dùng để muối cá) 134cm x 106cm x 100cm, dung tích 800 lít (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở dịnh giá.
- - 200kg khô cá lóc, bị thiêu trụi trị giá 36.000.000 đồng.
- - 100kg cá lóc tươi, bị thiêu trụi trị giá 5.500.000 đồng.
- - 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H3 loại 5kg, mua năm 2023 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi, giá trị còn lại 50% trị giá 143.500 đồng.
- - 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H3 loại 12kg, mua năm 2023 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi, giá trị còn lại 50% trị giá 227.500 đồng.
- - 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H3 loại 30kg, mua năm 2023 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi, giá trị còn lại 50% trị giá 300.000 đồng
- - 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H3 loại 100kg, mua năm 2023 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi, giá trị còn lại 50% trị giá 710.000 đồng.
- - 01 cân điện tử loại 300kg không rõ nhãn hiệu, mua năm 2024 (đã qua sử dụng) bị thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
Tổng cộng: 202.300.000 đồng. Các tài sản này là của ông L, bà S, ông H1, bà M.
* Đám cháy ảnh hưởng một căn nhà 03 tầng bị hư hỏng, gồm:
- - 01 vách tường nhà chất liệu gạch - xi măng, cao 12m x dài 18m, bị độ nóng đám cháy gây hỏng trị giá 84.672.000 đồng.
- - 01 cái máy lạnh hiệu SamSung công suất 01 ngựa (đã qua sử dụng) bị độ nóng đám cháy gây hỏng, giá trị còn lại 50% trị giá 3.975.000 đồng.
- - 01 cái máy lạnh hiệu M1 công suất 01 ngựa (đã qua sử dụng) bị độ nóng đám cháy gây hỏng, giá trị còn lại 50% trị giá 4.995.000 đồng.
- - 02 cây mai kiểng không rõ kích thước bị độ nóng đám cháy thiêu trụi: không có cơ sở định giá.
- - Cây ăn trái trên sân thượng bị độ nóng đám cháy gây hỏng, gồm:
- + 05 cây ổi trồng được 04 năm trị giá 2.855.000 đồng.
- + 02 cây táo trồng được 05 năm trị giá 1.088.000 đồng.
- + 01 cây na (mãng cầu ta) trồng được 03 năm trị giá 554.000 đồng.
- + 01 cây hồng xiêm (lồng mứt) trồng được 02 năm trị giá 473.000 đồng.
- + 01 cây cóc thái trồng được 05 năm trị giá 667.000 đồng.
Tổng cộng: 99.299.000 đồng. Các tài sản này là của ông H2, bà C.
* Đám cháy ảnh hưởng một căn nhà cấp 4 hư hỏng, gồm:
- · Vách tường gạch cao 3m x dài 20m, bị độ nóng đám cháy gây hỏng - Vách tole cao 0,9m x dài 20m, bị độ nóng đám cháy gây hỏng, giá trị còn lại 50% trị giá 18.342.000 đồng.
- - La phong nhựa 2,8m x 4m x 5 phòng bị độ nóng đám cháy gây hỏng, giá trị còn lại 50% trị giá 4.200.000 đồng.
Tổng cộng: 22.542.000 đồng. Các tài sản này là của ông T3, bà L1, ông T2.
+ Tổng trị giá tài sản của vụ án được định giá với số tiền là: 202.300.000 đồng + 99.299.000 đồng + 22.542.000 đồng = 324.141.000 đồng. (bút lục số 46, bút lục số 47, bút lục số 48).
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội như nội dung vụ án (bút lục số 127, bút lục số 128, bút lục số 129).
Nguyễn Văn L, Lý Thị S, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị Kim M, Mai Đức H2, Lê Thị Bạch C, Phạm T2, Phạm Hồng T3, Trần Thị L1 trình bày như nội dung vụ án. Ông L, bà S yêu cầu bồi thường thiệt hại 300.000.000 đồng. H1, M yêu cầu bồi thường những tài sản đã có giá trị như kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản và những tài sản không có cơ sở định giá trong kết luận định giá tài sản. H2, C, T2 yêu cầu bồi thường thiệt hại theo kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 5 năm 2025 (bút lục số 131-146, 147-162, 163-170, 174-182).
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng: 01 mảnh vỡ sành, 01 chai nhựa màu xanh, 01 bật lửa vỏ làm bằng nhựa trong suốt, bên trong có hai viên xúc xắc màu tím và xanh, đã qua sử dụng (bút lục số 08 - 09, 24).
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; về trách nhiệm dân sự bị cáo thống nhất bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại.
- - Bị hại ông L, bà S, ông H1, bà M trình bày tài sản của các ông bà bị thiệt hại khoảng 500.000.000 đồng, nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng.
- - Bị hại ông H2, bà C trình bày tài sản của các ông bà bị thiệt hại lớn hơn nhiều so với Kết luận định giá, nhưng tạo điều kiện cho bị cáo bồi thường thiệt hại ông bà yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 99.299.000 đồng theo giá của Kết luận định giá.
- - Bị hại ông T3, bà L1, ông T2 trình bày tài sản của các ông bà bị thiệt hại lớn hơn nhiều so với Kết luận định giá, nhưng tạo điều kiện cho bị cáo bồi thường thiệt hại ông bà yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 22.542.000 đồng theo giá của Kết luận định giá.
- - Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 3 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho ông L, bà S, ông H1, bà M số tiền 300.000.000 đồng.
- + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho ông H2, bà C số tiền 99.299.000 đồng.
- + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho ông T3, bà L1, ông T2 số tiền 22.542.000 đồng.
- - Bị cáo không bào chữa và không tranh luận, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình làm lại người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: 01 giờ 45 phút ngày 29 tháng 3 năm 2025 bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi dùng xăng là chất nguy hiểm, dễ cháy, đốt cháy nhà của ông Nguyễn Văn L làm thiệt hại toàn bộ căn nhà cùng những đồ vật trong nhà, đồng thời cháy lan sang làm hư hỏng hai căn nhà liền kề của ông Mai Đức H2 và ông Phạm T2, tổng thiệt hại về tài sản là 324.141.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình gây ra. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Hủy hoại tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “gây thiệt hại cho tài sản có giá trị trừ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” được quy định tại khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
[3] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi làm thiệt hại đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn sự thù hận của bản thân, gây thiệt hại đến tài sản của các bị hại là 324.141.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo T về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích, bị cáo lại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm theo điểm h khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Lẽ ra, sau khi chấp hành hình phạt tù bị cáo đã được giáo dục, bị cáo phải biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người lương thiện, sống có ích nhưng ngược lại chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo lại đốt nhà của người khác, hành vi của bị cáo là quá hung hăng, xem thường pháp luật. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly ra khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Về trách nhiệm dân sự:
- + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho ông L, bà S, ông H1, bà M số tiền 300.000.000 đồng.
- + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho ông H2, bà C số tiền 99.299.000 đồng.
- + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho ông T3, bà L1, ông T2 số tiền 22.542.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 mảnh vỡ sành; 01 chai nhựa màu xanh; 01 bật lửa vỏ làm bằng nhựa trong suốt, bên trong có hai viên xúc xắc màu tím và xanh, đã qua sử dụng là các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông L, bà S 300.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho H2, C, T2 số tiền 99.299.000 đồng.
- - Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho T3, L1 22.542.000 đồng.
Căn cứ khoản 3 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 29/3/2025 (ngày bị cáo bị bắt tạm giam).
Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh vỡ sành; 01 chai nhựa màu xanh; 01 bật lửa vỏ làm bằng nhựa trong suốt, bên trong có hai viên xúc sắc màu tím và xanh, đã qua sử dụng.
Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 16.263.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Ngọc Nguyên Trần Thanh Việt |
Lê Thị Hồng Thi |
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về hủy hoại tài sản
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T bị phạt 7 năm tù
