TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày 24 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội, ông Tường Duy Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực M thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh S.
- Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La: Bà Lâm Thị Thùy L.
Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La: Ông Nguyễn Trọng Đ.
Cán bộ, chiến sỹ Phân trại tạm giam khu vực M: Ông Cầm Thái N, ông Quàng Xuân L1.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực M thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh S, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Mùa A C, sinh ngày 07/12/1995 tại huyện P, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Mùa A N1 và bà Sồng Thị S; có vợ là Thào Thị D và 02 con; tiền án: Không;
Có 01 tiền sự: Ngày 26/10/2022 Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng; chấp hành xong ngày 26/10/2024 (Chưa được xóa tiền sự).
Về nhân thân:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/HSST/2017 ngày 30/10/2017 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 17/9/2018 chấp hành xong án phí; ngày 26/02/2019 chấp hành xong hình phạt tù (Đã được xóa án tích).
Ngày 23/12/2019 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng; chấp hành xong ngày 23/12/2021 (Đã được xóa tiền sự).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2025. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút, ngày 02/4/2025, tổ công tác Công an phường V, thị xã M cùng tổ bảo vệ an ninh trật tự tại cơ sở tổ dân phố L2, phường V làm nhiệm vụ tại khu vực nương rẫy thuộc tổ dân phố L, phường V kiểm tra đối với Mùa A C, qua kiểm tra phát hiện trên tay Cháy đang cầm bơm kim tiêm có buộc 01 gói nilon màu hồng đựng chất bột màu trắng, C khai nhận đó là gói ma túy (loại Heroine) của Cháy cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Mùa A C tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng để điều tra.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Mùa A C được 0,29 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu C, đồng thời giám định chiếc bơm kim tiêm bằng nhựa thu giữ của Mùa A C.
Tại Kết luận giám định số 439 ngày 04/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,29 gam. Tổng khối lượng thu giữ là 0,29 gam, loại Heroine (H).
Tại Kết luận giám định số 440 ngày 04/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu gửi giám định là chiếc bơm kim tiêm bằng nhựa, màu trắng thu giữ của Mùa A C có chứa chất ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mùa A C khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, khoảng 14 giờ, ngày 02/4/2025, C đi bộ đến khu vực tổ dân phố P, phường C, thị xã M để tìm mua ma tuý sử dụng, trên đường đi Cháy vào quán bán thuốc tây mua 01 chiếc bơm kim tiêm và 01 chai nước lọc để làm dụng cụ sử dụng ma tuý. Khi C đến khu vực đường dân sinh gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết được 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, có được ma tuý, C cất giấu vào trong túi áo ngực rồi đi bộ vào một cống thoát nước ven đường lấy một ít Heroine cho vào bơm kiêm tiêm cùng một ít nước lọc để sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, Cháy gói ma tuý còn lại, nhặt một dây cao su màu đen bên đường buộc chung vào bơm kim tiêm cất giấu vào túi quần bên phải. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, C đem số ma tuý còn lại đến khu vực thuộc tổ dân phố L để làm thuê, đến nơi Cháy chuẩn bị lấy số ma tuý ra sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.
Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La truy tố Mùa A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Mùa A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A C từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 chiếc bơm kim tiêm bằng nhựa, màu trắng và phong bì niêm phong mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ nilon màu hồng; sợi dây cao su màu đen và phong bì niêm phong ban đầu.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Mùa A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Số ma túy bị thu giữ do bị cáo mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, mục đích sử dụng cho bản thân.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường V lập vào hồi 18 giờ 30 phút, ngày 02/4/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định; bản Kết luận giám định số 439 ngày 04/4/2025 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo tàng trữ khối lượng 0,29 gam loại Heroine mục đích để sử dụng, do đó đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ, chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị kết án về tội phạm ma tuý và nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, bị cáo đã không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 chiếc bơm kim tiêm bằng nhựa, màu trắng và phong bì niêm phong mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ nilon màu hồng; sợi dây cao su màu đen và phong bì niêm phong ban đầu. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng, căn cứ khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với người phụ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập đến vấn đề xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
[8] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam 45 ngày đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Mùa A C 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 chiếc bơm kim tiêm bằng nhựa, màu trắng và phong bì niêm phong mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ nilon màu hồng, sợi dây cao su màu đen và phong bì niêm phong ban đầu.
(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/6/2025 của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mộc Châu).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Hà |
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Mùa A C 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
