Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 86/2025/HS-ST

Ngày 24-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đăng Chương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Khánh .

Bà Nguyễn Thanh Trâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Cao Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

LẠI VI LOAN, tên gọi khác: Hẻo; sinh ngày: 07/10/1999 tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ, con bà: Lại Thị Băng T, sinh năm: 1972; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 05 tháng 12 năm 2016, bị Công an T3 - T xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Ngày 14 tháng 6 năm 2017, bị Công an T3 - T xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Công ty cổ phần B; Địa chỉ: 2 đường K, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hồ Hoài T1, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Khu phố E, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 13/3/2025, Lại Vi L đang ở phòng trọ tại khu phố B, phường Đ, thành phố P - T thì L vào nhà vệ sinh phòng trọ nhìn qua cửa thông gió thấy kho hàng của F - chi nhánh của Công ty Cổ phần B không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào Kho để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. L đứng trên bồn cầu nhà vệ sinh trèo qua cửa thông gió và đột nhập vào Kho, khi vào được trong Kho hàng, L thấy nhiều cuộn dây đồng để lắp máy lạnh, L đã trộm 03 cuộn dây đồng với tổng chiều dài là 7,395m và 03 cặp thanh sắt dùng làm giá đỡ cục nóng máy lạnh rồi đưa toàn bộ tài sản đã trộm cắp được qua cửa thông gió vào nhà vệ sinh và trèo qua cửa thông gió về lại phòng trọ. Tại đây, L dùng tay xé lớp vỏ xốp bên ngoài lấy dây đồng bẻ thành nhiều đoạn nhỏ. Sau đó, đưa dây đồng cho Nguyễn Đức T2 (sinh năm 1993 trú tại khu phố B, phường Đ – là anh ruột của L) đem đi bán ở tiệm phế liệu của Hoàng Thuận L1 (sinh năm 1975 trú tại khu phố B, phường Đ) được 300.000 đồng. Số tiền bán được L dùng để tiêu xài cá nhân.

Đến khoảng 01 giờ ngày 14/3/2025, L tiếp tục trèo qua cửa thông gió nhà vệ sinh đột nhập vào kho hàng lấy trộm dây đồng, L trộm 03 cuộn dây đồng với tổng chiều dài là 18,5m rồi luồn qua cửa thông gió đưa về phòng trọ. Khi L đang ở phòng trọ xé lớp vỏ xốp bên ngoài thì bị Công an phường kiểm tra, yêu cầu mở cửa nên L đã ôm toàn bộ dây đồng đưa qua cửa thông gió đẩy về lại kho hàng. Công an phường Đ lập biên bản sự việc, L thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 16a/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P - T, kết luận:

  • - Đối với 26 đoạn ống đồng (18,5 mét) và 13 đoạn vỏ xốp (bao gồm các chi tiết cấu thành) tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 14/3/2025 có giá trị là: 2.405.000 đồng.
  • - Đối với 24 đoạn ống đồng (7,395 mét) và 03 cặp thanh sắt giá đỡ (bao gồm các chi tiết cấu thành) tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 13/3/2025 có giá trị tài sản là: 1.291.350 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Lại Vi Loan chiếm đoạt vào ngày 13/3/2025 và ngày 14/3/2025 có giá trị là 3.696.350 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản.

Đối với Nguyễn Đức T2, khi đi bán dây đồng giúp bị cáo, T2 hoàn toàn không biết tài sản đó do L trộm cắp mà có, do đó Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với T2 là có căn cứ.

Đối với Hoàng Thuận L1 khi mua dây đồng của Nguyễn Đức T2 bán thì L1 không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với L1 là có căn cứ.

* Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 25,895 m dây đồng, 13 đoạn vỏ xốp và 03 cặp thanh sắt giá đỡ, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của kho hàng của F - chi nhánh của Công ty Cổ phần B thuộc khu phố B, phường Đ, thành phố P - T (Người đại diện hợp pháp của Công ty là bà Hồ Hoài T1, sinh năm: 1988 trú tại khu phố E, phường B) nên Cơ quan điều tra đã trả lại số tài sản trên cho Kho hàng của F là có căn cứ.
  • - 01 đĩa CD ghi nhận lại diễn biến hành vi trộm cắp tài sản tại kho hàng của bị cáo L và 01 đĩa CD ghi lại quá trình hỏi cung có ghi âm ghi hình đối với bị cáo L, lưu vào hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Công ty cổ phần B – Người đại diện hợp pháp của Công ty yêu cầu bồi thường số tiền 3.366.000 đồng. Bị cáo L đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Bản cáo trạng số: 70/CT-VKSPR ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lại Vi L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • * Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Lại Vi L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng: điểm i, s, h Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lại Vi L mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T3 - T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, xét việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo, căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Trong các ngày 13/3/2025 và ngày 14/3/2025, tại kho hàng của F - chi nhánh của Công ty Cổ phần B thuộc khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, bị cáo Lại Vi L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị là 3.696.350 đồng của Công ty cổ phần B.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – T truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản thuộc sở hữu của người khác là bất khả xâm phạm, luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đến đều bị pháp luật trừng trị nhưng với bản chất tham lam lười lao động, muốn hưởng thụ nhưng lại không chịu lao động chân chính, bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng 02 (hai) lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên với bị cáo đây là lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc cho bị cáo khi lượng hình.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như thế mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6]. Đối với Nguyễn Đức T2, quá trình điều tra thể hiện khi đi bán dây đồng giúp L, T2 hoàn toàn không biết tài sản đó do L trộm cắp mà có, do đó cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với T2 là có căn cứ.

[7]. Đối với Hoàng Thuận L1, quá trình điều tra thể hiện khi mua dây đồng của Nguyễn Đức T2 bán thì L1 không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với L1 là có căn cứ.

[8]. Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, bị hại là Công ty cổ phần B yêu cầu bồi thường số tiền 3.366.000 đồng, bị cáo L đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

[9]. Về xử lý vật chứng:

  • - Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu kho hàng Công ty FPT Shop – Chi nhánh của Công ty cổ phần B thuộc khu phố B, phường Đ, thành phố P - T 25,895 m dây đồng, 13 đoạn vỏ xốp và 03 cặp giá đỡ là phù hợp;
  • - 01 đĩa CD ghi nhận lại diễn biến hành vi trộm cắp tài sản tại kho hàng của bị can L và 01 đĩa CD ghi lại quá trình hỏi cung có ghi âm ghi hình đối với bị cáo L, cần lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.

[10]. Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lại Vi L (tên gọi khác: H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Lại Vi L (tên gọi khác: H) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

    Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lại Vi L với bị hại Công ty cổ phần B về bồi thường dân sự. Bị cáo Lại Vi L phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty cổ phần B số tiền 3.366.000 đồng (Ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu lực (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lại Vi L phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/6/2025); bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đăng Chương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Phạm Khánh

Nguyễn Thanh Trâm

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đăng Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lại Vi L (tên gọi khác: H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lại Vi L (tên gọi khác: H) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. 2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lại Vi L với bị hại Công ty cổ phần B về bồi thường dân sự. Bị cáo Lại Vi L phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty cổ phần B số tiền 3.366.000 đồng (Ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger