Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU


Bản án số: 86/2025/HS-ST

Ngày: 22-5-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Lý Ngọc Sáng
  • - Bà Vàng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST- HS ngày 09/5/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thanh H - Sinh năm 1987.

    Nơi thường trú: Tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T - sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1962; Bị cáo có vợ là Phan Thị Huyền T1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản án số 10/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Nguyễn Thanh H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí DSST. Ngày 29/9/2021, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các khoản án phí. Tính đến ngày phạm tội mới bị cáo đã được xoá án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 cho đến nay (Có mặt).

  2. Họ và tên: Lùng Văn A - Sinh năm 1999.

    Nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lùng Văn N - sinh năm 1975 và bà Lý Thị H2 - sinh năm 1978; Bị cáo có vợ là Tống Thị V và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 cho đến nay (Có mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Lùng Văn N - sinh năm 1975 (Có mặt)
  • Nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu
  • + Chị Tống Thị V - sinh năm 2002 (Có mặt)
  • Nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thu T2 - sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu

- Người bào chữa cho bị cáo Lùng Văn A: Ông Lê Mạnh H3 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 26/12/2024, Nguyễn Thanh H4 bắt xe khách từ thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu đến khu dân cư N, thuộc bản P, xã M, với mục đích mua Heroine để sử dụng và bản kiếm lời. Tại đây, H gặp một người đàn ông không rõ lai lịch và nhờ người này mua hộ một gói Heroine bọc trong mành nilon màu hồng, với giá 400.000 đồng. Sau khi nhận được gói H5, H cất vào túi áo đang mặc rồi đi nhờ xe ô tô tải quay về nhà chị Nguyễn Thu T3, trú tại khu phố G, thị trấn M (nơi H đang ở nhờ). Thời điểm này, chị T2 không có mặt tại nhà.

Khi về đến nơi, H lấy gói Heroine ra sử dụng một phần, phần còn lại được gói lại và cất vào một hộp bìa cát tông hình vuông, mâu đen, đặt dưới gầm bàn uống nước trong căn phòng H đang ở.

Đến khoảng 13 giờ 50 phút ngày 27/12/2024, Lùng Văn A sử dụng chiếc điện thoại di động nhân hiệu Realme màu xanh, gắn sim số 0368124134 của vợ là Tổng Thị V1, gọi vào số 0989289317 của H để hỏi mua Heroine. Hai bên thỏa thuận giá bán là 200.000 đồng và hẹn gặp nhau tại đầu cầu N (gần nhà nơi H đang ở) để giao dịch.

Sau cuộc gọi, H lấy gói Heroine đã mua trước đó ra, đặt lên một mảnh gạch men màu trắng, dùng dao lam chia thành hai phần rồi gói từng phần lại bằng mành nilon màu hồng. Hai gói Heroine này được H cất vào túi quần bên trái, phần còn lại tiếp tục được gói như ban đầu và cất lại vào hộp bìa cát tông. Mảnh gạch men còn dính vụn Heroine được để nguyên trên tấm xốp trải nền cạnh giường ngủ. Sau đó, H đi bộ ra đường để gặp Lùng Văn A.

Khi vừa ra khỏi nhà, H gặp A điều khiển xe máy đến. Anh đưa cho H 200.000 đồng, H cất tiền vào túi quần bên trái rồi lấy ra hai gói Heroine bọc trong nilon màu hồng đưa cho A. Ngay khi Lùng Văn A vừa nhận hai gói Heroine từ Nguyễn Thanh H thì bị lực lượng Công an thị trấn M phát hiện. Anh lập tức thả hai gói Heroine xuống mặt đường. Lực lượng Công an yêu cầu Anh nhặt lại số Heroine vừa thả và giao nộp. Anh dã giao nộp hai gói H5, đồng thời khai nhận đó là số ma túy vừa mua của Nguyễn Thanh H. Cùng lúc đó, H giao nộp số tiền 200.000 đồng thu được từ việc bán Heroine cho A. Trước sự việc trên, Công an thị trấn M đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời tiến hành niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại nhà chị Nguyễn Thu T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M thu giữ một hộp bìa cát tông hình vuông, màu đen, bên trong có một gói Heroine bọc trong mảnh nilon màu hồng và một ít Heroine còn lại trên mảnh gạch men màu trắng (số Heroine này được lực lượng chức năng cho vào mảnh nilon màu hồng, gói lại ngay tại hiện trường). Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ một số vật dụng khác mà H đã sử dụng để sử dụng ma túy.

Tại bản kết luận giỏm định số 145/KLGĐ ngày 27/12/2024 của người giỏm định tư phỏp thuộc Cụng an huyện M, tỉnh Lai Chõu kết luận: “02 mẫu chất bột khụ, màu trắng thu giữ của Lựng Văn A là: 0,16 gam; 02 mẫu chất bột khụ, màu trắng thu giữ của Nguyễn Thanh H là: 1,42 gam.

Tại kết luận giám định số 108/GĐ-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận đối với 02 mẫu vật chứng thu giữ của Nguyễn Thanh H; 02 mẫu vật chứng thu giữ của Lùng Văn A: “04 Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin)..”.

Tại kết luận giám định số 109/KL-KTHS ngày 01/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS-MT ngày 16/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Lùng Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" bị cáo Lùng Văn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xử phạt bị cáo Lùng Văn A mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 02 mảnh gạch men màu trắng; 01 hộp bìa cát tông hình vuông, màu đen; 02 dao lam; 01 mảnh giấy bạc; 01 phong bì thư niêm phong do Công an huyện M phát hành, bên trong đựng 1,26 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng, 02 bì thư công văn do Công an huyện M phát hành.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H. Tịch thu bán hóa giá, sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen kèm phô thẻ sim số 0989289317 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tống Thị V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh kèm phô thẻ sim số 0368124134.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lùng Văn N 01 xe máy nhãn hiệu Honda lại Blade màu sơn đỏ, biển kiểm soát 25M1-128.65.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lùng Văn A trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo Lùng Văn A trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người đã tham gia quân ngũ, được tặng giấy ken để xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lùng Văn N: Việc bị cáo dùng chiếc xe máy là tài sản thuộc sở hữu của ông vào việc phạm tội ông không biết. Ông đề nghị được trả lại chiếc xe máy cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tống Thị V: Việc bị cáo dùng chiếc điện thoại di động là tài sản riêng thuộc sở hữu của chị vào việc phạm tội chị không biết. Chị đề nghị được trả lại chiếc điện thoại cho chị.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo:

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 27/12/2024, tại khu vực gần cầu N, thuộc khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Thanh H đang bán 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,16 gam cho Lùng Văn A với giá 200.000 đồng thì bị Công an thị trấn M phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh H tại nhà chị Nguyễn Thu T2 (khu phố G, thị trấn M), Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 1,42 gam Heroine mà H đang cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời.

Số Heroine mà Nguyễn Thanh H đã bán cho Lùng Văn A và số Heroine đang tàng trữ trái phép đều có cùng nguồn gốc, do đó H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 1,58 gam Heroine.

Đối với Lùng Văn A, do mua ma túy với mục đích sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine.

Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Hành vi tàng trữ 0,16 gam Heroine để sử dụng của bị cáo Lùng Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi mua bán, tàng trữ với mục đích mua bán trái phép tổng khối lượng 1,58 gam Heroine để kiếm lời của bị cáo Nguyễn Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần được chấp nhận.

Quan điểm của người bào chữa: Đề nghị cho bị cáo Lùng Văn A được hưởng mức án thấp nhấp của khung hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy việc cho bị cáo Lùng Văn A hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là chưa đảm bảo tính răng đe đối với bị cáo nên không được chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Nhân thân:

Các bị cáo đều là người nghiện chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Thanh H: Tại bản án số 10/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí DSST. Ngày 29/9/2021, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các khoản án phí. Tính đến ngày phạm tội mới bị cáo đã được xoá án tích.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS

Bị cáo Lùng Văn A là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo đã tham gia quân ngũ và được tặng giấy khen nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS.

Do các bị cáo là người nghiện chất ma túy, hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo đều có công việc và thu nhập không ổn định. Bị cáo Lùng Văn A đang sống cùng bố mẹ, gia đình không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số Heroine đã gửi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi mẫu vật giám định là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

02 mảnh gạch men màu trắng; 01 hộp bìa cát tông hình vuông, màu đen; 02 dao lam; 01 mảnh giấy bạc; 01 phong bì thư niêm phong do Công an huyện M phát hành, bên trong đựng 1,26 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng, 02 bì thư công văn do Công an huyện M phát hành là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành, là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và để niêm phong vật chứng, đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định.

Số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H là tiền bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen kèm phô thẻ sim số 0989289317 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H. Đây là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo đã dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán hóa giá, sung ngân sách Nhà nước.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh kèm phô thẻ sim số 0368124134 đây là tài sản riêng của chị Tống Thị V. Việc bị cáo Lùng Văn A dùng liên lạc với Nguyễn Thanh H để mua ma túy chị V không biết nên cần trả lại theo quy định tại.

01 xe máy nhãn hiệu Honda lại Blade màu sơn đỏ, biển kiểm soát 25M1-128.65 là tài sản thuộc sở hữu của ông Lùng Văn N. Việc bị cáo Lùng Văn A dùng chiếc xe máy để đi mua ma túy ông N không biết nên cần trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lùng Văn N.

[6]. Về những vấn đề khác:

Đối với người phụ đàn ông lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã mua Heroine hộ bị cáo H: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.

Về việc Lùng Văn A đã sử dụng xe máy của bố đẻ là ông Lùng Văn N để đi mua ma túy: Quá trình điều tra xác định ông N không biết việc bị cáo A sử dụng xe vào hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập đến việc xử lý ông N là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về việc Lùng Văn A đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, gắn sim số 0368124134 thuộc quyền sở hữu của chị Tống Thị V để liên lạc với H mua ma túy: Quá trình điều tra xác định khi H sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua ma túy, chị V không biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập đến việc xử lý Tống Thị V là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thu T2: Do thời điểm Nguyễn Thanh H mua, sử dụng và tàng trữ ma túy tại nhà, chị T2 không có mặt và không biết việc H cất giấu ma túy tại đây, nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T2 là phù hợp.

[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lùng Văn A hiện đang sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lùng Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 03 năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/12/2024.

    Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lùng Văn A 01 năm 04 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 46; Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 02 mảnh gạch men màu trắng; 01 hộp bìa cát tông hình vuông, màu đen; 02 dao lam; 01 mảnh giấy bạc; 01 phong bì thư niêm phong do Công an huyện M phát hành, bên trong đựng 1,26 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng, 02 bì thư công văn do Công an huyện M phát hành.

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H.

    Tịch thu bán hóa giá, sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen kèm phôi thẻ sim số 0989289317 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H.

    Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tống Thị V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh kèm phô thẻ sim số 0368124134.

    Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lùng Văn N 01 xe máy nhãn hiệu Honda lại Blade màu sơn đỏ, biển kiểm soát 25M1-128.65.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 15 tháng 5 năm 2025)

  4. Án phí:

    Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

    Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lùng Văn A.

  5. Quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Mường Tè;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QL, NV LQ;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện;
  • - Phân trại Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 86/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger