TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 86/2025/HS-ST
Ngày 17-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Minh;
Ông Vũ Văn Thôn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 17/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Trương Văn M, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2000 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố B T, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông (chưa xác định được họ tên bố) và bà Trương Thị T, sinh năm 1971; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 8 năm 2025 đến nay; có mặt;
- Bị hại: Anh Trần Huỳnh Đ, sinh năm 2000; nơi ĐKTT: Thôn N, xã H, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn M là công nhân Công ty TNHH L, thuộc khu công nghiệp T, phường A, thành phố Hải Phòng. Mười được Công ty giao cho sử dụng tủ đựng đồ cá nhân số B6.18. Trong thời gian làm việc, M đã dùng chìa khoá tủ của mình mở thử tủ đựng đồ số B8.12 của anh Trần Huỳnh Đ làm cùng Công ty (đối diện cùng dãy với tủ của M) thì mở được, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 18 giờ ngày 02/7/2025, M xin về trước rồi đi đến dãy tủ đựng đồ cá nhân, kéo rèm lại, dùng chìa khóa mở tủ B8.12 của anh Đ lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng cho vào túi quần đang mặc rồi khóa tủ lại. Về nhà, M cất điện thoại trong tủ quần áo ở phòng trọ dự định sẽ mang đi bán. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh Đ mở tủ thấy điện thoại bị mất nên đã trình báo Công ty. Ngày 03/7/2025, qua rà soát camera Công ty mời Mười lên làm việc, M nhận đã lấy trộm điện thoại của anh Đ. Công ty đã bàn giao M cùng vật chứng là 01 điện thoại Iphone 12 Pro; 01 USB chứa dữ liệu camera hiện trường cho Cơ quan Công an.
Kết luận định giá tài sản số 75 ngày 15/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng lưu trữ 512 Gb, màu vàng, số IMEI 356681110481733 kích hoạt năm 2020 đã qua sử dụng, tại thời điểm 02/7/2025 có giá 9.590.000 đồng.
Quá trình điều tra anh Trần Huỳnh Đ trình bày: Anh làm công nhân Công ty TNHH L từ tháng 6/2023 đến nay và được Công ty giao cho sử dụng tủ đựng đồ cá nhân số B6.12. Ngày 02/7/2025, anh bị mất chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro; sau đó được biết Trương Văn M là người chiếm đoạt chiếc điện thoại này. Anh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng: 01 USB chứa dữ liệu camera chuyển theo hồ sơ vụ án; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu vàng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đ.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và khai một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Trần Huỳnh Đ với mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật. Bị cáo đã giao nộp chiếc điện thoại trộm cắp được cho cơ quan điều tra để trả lại cho anh Đ; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử mức án cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố Trương Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Trần Huỳnh Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về người tham gia tố tụng: Bị hại là anh Trần Huỳnh Đ vắng mặt. Tuy nhiên, bị hại đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.
- Về tội danh và hình phạt:
[4] Lời khai của bị cáo Trương Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 02/7/2025, tại Công ty TNHH L thuộc khu công nghiệp T, phường A, thành phố Hải Phòng, Trương Văn M đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro trị giá 9.590.000 đồng của anh Trần Huỳnh Đ.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự; nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự nên việc xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ.
[6] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức rõ được sự sai trái của mình để khắc phục, sửa chữa; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo mục đích của hình phạt; cũng như tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục đi làm, có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt; đồng thời cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 USB chứa dữ liệu camera là tài liệu trong hồ sơ vụ án; Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu vàng cho anh Trần Huỳnh Đ, là đúng quy định pháp luật.
[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.
Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trương Văn M 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Trương Văn M cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 45; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trương Văn M, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Văn M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trương Văn M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Huỳnh Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn M - Trộm cắp tài sản
