Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HS-ST

Ngày 14 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến
  • Bà Nguyễn Thị Hạnh
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lương Văn C (tên gọi khác Lương Văn T); sinh ngày 13 tháng 04 năm 1973 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà G H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Trung K (đã chết); con bà: Trương Thị K1 (đã chết); Gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ 07; vợ: Vũ Thị Thanh H (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2002; tiền án: Năm 1992 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chưa nộp án phí và chưa bồi thường dân sự); tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1992 Tỏa án nhân dân tỉnh T xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, năm 2006 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Năm 2009 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2024 đến ngày 04/11/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.

Bị hại: Anh Lê Doãn H1, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu phố V, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt không có lý do

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Văn T1, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số nhà E, đường B, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Lương Văn C một mình đi đến bệnh viện phụ sản tỉnh T, mục đích lợi dụng sơ hở tài sản để trộm cắp. C đi bộ dọc hành lang các tầng, đến tầng D tòa nhà A nhìn thấy trong phòng 419 có 2 vợ chồng anh Lê Doãn H1 sinh năm 1993, thường trú tại thành phố S đang ngủ trưa, dưới đất có 01 chiếc điện thoại Iphone 12 màu trắng đang cắm sạc. Lợi dụng lúc vợ chồng anh H1 đang ngủ say, C dùng tay lấy chiếc điện thoại trên vào túi quần trái rồi ra khỏi phòng. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại trên, C đem đến 498 Bà T, phường T, thành phố T nhờ anh Cao Văn T1, sinh năm 1989 (chủ cửa hàng điện thoại) phá khóa, khi nào phá được chiếc điện thoại thì T1 sẽ gọi C đến lấy.

Đến ngày 29/10/2024, anh H1 đến Công an phường Q trình báo sự việc. Cùng ngày, C đã đến Công an phường Q xin đầu thú. Công an phường Q đã lập biên bản về việc người thực hiện hành vi phạm tội ra đầu thú theo quy định.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 91/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá Ủy ban thành phố T kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 màu trắng trị giá 5 triệu đồng.

Quá trình điều tra, bị can Lương Văn C đã thành khẩn khai báo hành vi trộm cắp tài sản của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác.

Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 thường, màu trắng, loại 64GB đã qua sử dụng, là vật chứng C đã trộm cắp. Cơ quan điều tra, đã ra quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trả lại cho chủ sơ hữu hợp pháp là anh Lê Doãn H1.

Về phần dân sự: Người bị hại là anh Lê Doãn H1 không yêu cầu, đề nghị về phần bồi thường dân sự.

Quá trình điều tra, Lương Văn C đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập. Bị hại anh Lê Văn H2 đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSTP ngày 08 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lương Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà:

Đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đề nghị: Xử phạt bị cáo Lê Văn C1 từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

Ngoài ra Đại diện VKSND còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng ý với toàn bộ quan điểm và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo, nội dung bản cáo trạng.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Khoảng 13 gờ 30 phút, sáng ngày 10/10/2024, tại phòng 419 tầng 4 tòa nhà A Bệnh viện P,địa chỉ: Phường Q, thành phố T, Lê Doãn H1 đã có hành vi lén lút trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 12 màu trắng có trị giá 5.000.000 đồng của anh Lê Doãn H1.

Bị cáo nhận thức được việc “trộm cắp tài sản” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 12 của anh H1 để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào khoản 1 Điều 173 BLHS như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 1992 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 59 ngày 10/06/1992, bị cáo vẫn chưa nộp án phí và chưa chấp hành tiền bồi thường cho bị hại nên chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: có 02 tình tiết giảm nhẹ như sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo đầu thú, đây là 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Tuy nhiên. Bị cáo đang ở độ tuổi lao động nhưng lại lười lao động và thích thụ hưởng những vật chất mà không phải do bản thân mình tự tạo ra, để có tiền chi tiêu cho bản thân mà đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn.

Bị cáo tái phạm và có nhân thân xấu, ngoài lần này bị cáo đã từng bị xét xử 04 lần về các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trốn khỏi nơi giam, cướp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo không xem đó là bài học rút ra cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Nên cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nào có giá trị, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

[7] Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 thường, màu trắng, loại 64GB đã qua sử dụng, là vật chứng C1 đã trộm cắp. Cơ quan điều tra, đã ra quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trả lại cho chủ sơ hữu hợp pháp là anh Lê Doãn H1 là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Các đề nghị của Đại diện VKSND là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C (tên gọi khác: Lương Văn T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lương Văn C 13 (mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 29/10/2024).

Án phí: Bị cáo Lương Văn C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có ql, nv liên quan
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQCSĐT CA thành phố Thanh Hoá;
  • - CQTHAHS CA thành phố Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thành phố Thanh Hoá;
  • - VKSND thành phố Thanh Hoá;
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tiến Nguyễn Thị Hạnh Nguyễn Thanh Tân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger