TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HS-ST
Ngày: 04-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng
Các Hội thẩm nhân dân chính thức:
1/ Ông Vũ Ngọc Tiến
2/ Bà Hà Thị Gái
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Thanh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Hoàng Quốc B - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Tuấn A - Kiểm sát viên
Ngày 04/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 14/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 21/5/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T;
sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: số 6 N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Cư trú: 45/27/4 L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T1; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2025 (Có mặt)
-Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Chị Phạm Thị Hoàng L, sinh năm 2003
Thường trú: 3/160 Y, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 14/01/2020, Lê Văn M1 điều khiển xe gắn máy, biển số 52X2 – 2838 chở Nguyễn Văn T đi tìm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đi ngang qua Cửa hàng bán điện thoại di động Cao Duy, số: 651, Đường C, P, Quận A (viết tắt Cửa hàng) T nói M1 vào Cửa hàng vờ hỏi mua điện thoại rồi cầm điện thoại bỏ chạy, chiếm đoạt. Mão đồng ý, dừng xe trước Cửa hàng. T ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn. Mão xuống xe đi bộ vào Cửa hàng, gặp bà Phạm Thị Hoàng L vờ hỏi mua điện thoại. Khi bà L cầm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen đưa cho M1 xem thì M1 giật lấy chiếc điện thoại bỏ chạy ra xe cho T chở bỏ chạy. Bà L truy hô, quần chúng nhân dân bắt giữ được Mão cùng vật chứng, phương tiện phạm tội giao Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý. Nguyễn Văn T bỏ xe chạy bộ tẩu thoát.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen bị chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 11/02/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, có trị giá là 6.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Lê Văn M1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Tòa án nhân dân Quận 10 đã xét xử và tuyên phạt đối với Lê Văn M1 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 171 theo Bản án số 44/2020/HSST ngày 05/6/2020.
Cơ quan điều tra Công an Q1 ra Quyết định truy tìm số 13 ngày 21/01/2020 đối với Nguyễn Văn T. Ngày 14/01/2025, Công an P1, Quận E bàn giao Nguyễn Văn T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q 10 theo Quyết định truy tìm.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi cùng với Lê Văn M1 chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của bà Phạm Thị Hoàng L như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án: Đã được xử lý theo Bản án số 44/2020/HSST ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân Quận 10.
Về dân sự: chị Phạm Thị Hoàng L không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 14/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân Quận 10 để xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 vẫn giữ quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”;
Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại
Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý theo bản án số 44/2020/HSST ngày 05/6/2020.
Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài, Khoảng 20 giờ 40 ngày 14/01/2020, tại cửa hàng C, số: F Đường C, Phường F, Quận A bị cáo Nguyễn Văn T cùng với Lê Văn M1 đã có hành vi công khai, bất ngờ giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đencủa chị Phạm Thị Hoàng L rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt qua định giá có giá trị là 6.000.000 đồng.
Với giá trị tài sản chiếm đoạt và hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xét, bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn M1 đồng phạm giản đơn, trong đó M1 là người trực tiếp chiếm đoạt chiếc điện thoại, bị cáo T là người rũ rê và giúp sức cho M1 tẩu thoát. Do đó, mức độ phạm tội của hai bị cáo là như nhau.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ vụ lợi bất chính, lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý phạm tội.
[4] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích cho xã hội. Hình phạt đối với bị cáo cũng để giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo hiện không có nghề nghiệp nên miễn phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại
[7] Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý theo bản án số 44/2020/HSST ngày 05/6/2020.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 171; Điều 38, Điều 17, Điều 58, các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2025.
Miễn áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Nhất Dũng |
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội cướp giật tài sản
