|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2025/HS-PT Ngày: 30/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn và bà Nguyễn Thị Hân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị N kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST, ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị N, sinh ngày 12/11/1989 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn G, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ôngNguyễn Văn T, sinh năm 1966 và bàNguyễn Thị N1, sinh năm 1962; chồng là:anh Phạm Đình L, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền sự, tiền án: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/12/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác không kháng cáo không triệu tập đến phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị N, Đinh Thị T1, Nguyễn Thị D đều là nhân viên hợp đồng làm việc tại kho nguyên phụ liệu thuộc Công ty Cổ phần M; địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Thị N được bổ nhiệm làm trưởng nhóm phụ liệu theo Quyết định bổ nhiệm số 03/2021-QĐ ngày 01/06/2021 của Công ty Cổ phần M. Theo đó, N có trách nhiệm quản lý, phân việc cho 09 người, trong đó có T1 và D; nhận phụ liệu (cúc, khoá, chỉ, mác) và phân đơn hàng cho mọi người trong nhóm, quản lý theo dõi các đơn hàng theo phân công; quản lý, phân loại, bảo quản phụ liệu thừa trong quá trình sản xuất và thống kê báo lại cho anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1993, trú tại thôn X, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình là thủ kho của Công ty cổ phần M khi có yêu cầu của công ty.
Trong quá trình làm trưởng nhóm phụ liệu, N thường xuyên nhận phụ liệu trực tiếp với Phạm Tiến D1 là lái xe của Công ty TNHH H; địa chỉ: khu công nghiệp D, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nên hai người đã quen biết nhau. Khoảng giữa tháng 8/2024, D1 gặp, bàn bạc và thỏa thuận với N về việc nếu có chỉ thừa lưu trữ tại kho (chỉ tồn) của Công ty thì bán cho D1 với giá 400.000 đồng/01 kiện (01 thùng catton đựng 100 cuộn chỉ thừa), N đồng ý. Sau khi thỏa thuận với D1, N bảo D, T1 cùng lấy chỉ thừa của Công ty do mình quản lý để bán cho D1, số tiền bán được sẽ chia nhau, D, T1 đồng ý và từ đó, hàng ngày, N, Dơn, T1 thu gom các cuộn chỉ thừa thuộc mã được giao quản lý, xếp vào kho của Công ty. Đến 11 giờ ngày13/09/2024, D1 nhận lệnh của Công ty TNHH H điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, biển số đăng ký 89LD-004.97 của C tychở hàng đi giao cho các công ty khác (trong đó có Công ty cổ phần M). D1 gọi điện thoại hỏi N trong kho có chỉ tồn không thì chuẩn bị, chiều D1 qua lấy, N nói với D1 là có khoảng 20 kiện. Sau đó, N nói với D, T1 lấy 21 kiện chỉ tồn ở kho của Công ty do mình quản lý chuyển lên xe ô tô để D1 mang đi bán vànói “Để lấy được các kiện chỉ tồn này thì phải làm các tem dán đầu thùng có tên của Công ty H1, khi xe của D1 ra cổng, bảo vệ kiểm tra thì nghĩ là hàng Công ty H1".Dơn sử dụng máy tính và máy in của Công ty cổ phần M đánh máy và in 21 tem có các trường thông tin giống với tem của Công ty TNHH H; N, D, T1 cùng nhau dán 21 tem trên vào 21 kiện chỉ tồn đã chuẩn bị sẵn để ở kho phụ liệu.
3
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi D1 điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, biển số đăng ký 89LD- 004.97 chở phụ liệu của Công ty TNHH H đến giao cho Công ty cổ phần M. D1 bốc các kiện nguyên phụ liệu xuống để ở kho tầng 1 của Công ty; Nhường, T1, Dơn kiểm và nhận hàng. Sau khi giao nhận hàng xong, N, T1, Dơn lần lượt bốc hết 21 kiện chỉ tồn để D1 đứng ở trên xếp vào thùng xe và tiếp tục vào làm việc. D1 đóng cửa thùng xe và điều khiển xe ô tô chở theo số chỉ tồn trên đi đến cổng của Công ty cổ phần M thì bảo vệ yêu cầu D1 dừng xe và mở thùng xe để kiểm tra. Kết quả kiểm tra xác định: trên thùng xe ô tô tải, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, biển số đăng ký 89LD-004.97 do D1 điều khiển có 21 thùng catton đều có kích thước (25 x 32 x 60)cm, tổng cộng 2.100 cuộn chỉ, trị giá 8.400.000 đồng. D1 khai nhận số chỉ trên là của N, D, T1 lấy từ kho của Công ty cổ phần M1 cho D1 theo sự bàn bạc thống nhất từ trước, không được sự đồng ý của Công ty. Công ty cổ phần M có đơn trình báo và phối hợp với Công an huyện Q lập biên bản vụ việc, thu giữ và niêm phong 21 thùng bìa catton kích thước (25 x 32 x 60)cm, bên trong đựng tổng cộng 2.100 cuộn chỉ trước sự chứng kiến của người làm chứng: Nguyễn Thị O là nhân viên nhân sự của Công ty cổ phần M có trách nhiệm phân công, điều động nhân viên bảo vệ, thực hiện nhiệm vụ và bà Vũ Thị L1 - Giám đốc nhân sự của Công ty cổ phần M. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu G5 màu hồng phấn, lắp 01 sim số 0969319836 của Phạm Tiến D1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, lắp 02 sim số 0355301158 và 0859559747 của Nguyễn Thị N.
Bản án hình sự sơ thẩm 36/2025/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N tội “Tham ô tài sản”
Áp dụng khoản 1, khoản 6 Điều 353;các điểm h, s, n khoản 1,khoản 2Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, quyết định hình phạt đối với các bị cáo Phạm Tiến D1, Nguyễn Thị D và Đinh Thị T1, quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/4/2025, bị cáo Nguyễn Thị N kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo T2 đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N, giữ nguyên mức hình phạt của bị cáo N và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo đồng thời giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm. Do đã có sự bàn bạc thống nhất từ trước giữa Nguyễn Thị N và Phạm Tiến D1, Nguyễn Thị D, Đinh Thị T1. Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 13/9/2024, tại Công ty cổ phần M, ở thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Thị N đã có hành vi lợi dụng quyền hạn làm trưởng nhóm phụ kiện trong Công ty, cùng với Nguyễn Thị D, Đinh Thị T1 chiếm đoạt 2.100 cuộn chỉ may thừa là nguyên liệu chờ thanh lý (chỉ tồn), trị giá 8.400.000 đồng của Công ty Cổ phần M do Nhường quản lý chuyển lên xe ô tô tải, nhãn hiệu THACO, biển số đăng ký 89LD-004.97 bán cho Phạm Tiến D1, mục đích lấy tiền chia nhau.Vì vậy, bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HSST xét xử các bị cáo về tội “Tham ô thài sản” theo quy định tại khoản 1 khoản 1, 6 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo thì thấy: Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; số tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn; bị cáo N thực hiện tội phạm khi đang mang
5
thai.Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo N đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với quy định tại Bộ luật hình sự và Điều 2, khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, bị cáo đủ điều kiện để có thể được xem xét cho hưởng án treo. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội để chấp hành hình phạt tù tại trại giam là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo N có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cần giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát trong thời gian thử thách là cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, từ đó thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
[4] Từ những nhận định kể trên Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N được chấp nhận, nên bị cáo N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N, sửa bản án sơ thẩm số 36/2025/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị N.
6
2. Áp dụng khoản 1, khoản 6 Điều 353; các điểm h, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo mà đổi nơi cư trú được thi hành theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 30/6/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Thế Tương |
Bản án số 86/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tham ô tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 86/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án HSPT số 86/2025 Nguyễn Thị Nhường phạm tội Tham ô Tài sản
