TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HS-PT Ngày 30 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.
CácThẩm phán: Ông Cao Minh Lễ, bà Trần Thị Thúy Hà.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2025/TLPT- HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với vụ án Đỗ Minh Đ và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2024/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Đỗ Minh Đ, (còn có tên gọi khác Đức Hai H) năm 1981; tại thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Thành H1 (chết) và bà Trần Thị T (chết); Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thanh T1; có 01 con;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 125/1998/HS- ST ngày 12/12/1998 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay thành phố C) xử phạt 01 năm tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản công dân”; bản án số 83/2013/HS-ST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bản án số 194/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác tại Trại giam C3 thuộc Bộ C4 (có mặt).
2. Nguyễn Quốc V (còn có tên gọi khác Việt M) sinh năm 1991; tại thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ú (chết) và bà Lâm Thu H2; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim C (chết); có 01 con;
Tiền án: Bản án số 21/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/2020; bản án số 14/2022/HS-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bản án xác định tái phạm, chấp hành xong ngày 13/10/2023; bản án số 111/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Tiền sự: không.
Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác tại Trại giam T8 thuộc Bộ C4 (có mặt).
Trong vụ án còn có các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/10/2023, bị cáo Đỗ Minh Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C bắt tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tạm giam cùng với bị cáo Trần Tấn P bị tạm giam về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và bị cáo Dương Tuấn S bị tạm giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại buồng giam 1D Nhà tạm giữ Công an thành phố C. Quá trình tạm giam, bị cáo Đ liên hệ với Nguyễn Minh H3 L bị tạm giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại buồng giam 2D để mượn điện thoại di động của L 02 lần (mỗi lần Đ trả cho L 300.000 đồng/cuộc) gọi về cho Lê Thị Thanh T1 (vợ của Đ) hỏi thăm gia đình. Khoảng tháng 11/2023, trong một lần gửi quà thăm nuôi cho bị cáo Đ, T1 giấu trong hộp nhựa đựng thực phẩm 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại phím bấm, bên trong có 01 sim số 0944974419. Các bị cáo Đ, P, S sử dụng điện thoại này gọi về nhà nhiều lần cho người thân. Khi biết tin chuẩn bị kiểm tra buồng giam, bị cáo Đ dùng một túi vải giấu điện thoại rồi dùng dây treo phía sau tường của buồng giam, còn thẻ sim bị cáo Đ cất giấu trong buồng giam. Sau đó, Nguyễn Thành T2 (phạm nhân chấp hành án) ra phía sau dãy buồng giam khu D phát hiện phía sau buồng giam 1D có túi vải nên lấy xuống thấy có một điện thoại Nokia, Thành T2 lấy sạc đầy pin, cất giấu để dùng nhưng không có sim. Bị cáo Đ nghĩ Thành T2 lấy điện thoại nên đòi lại, Thành T2 mang điện thoại trả bị cáo Đ và lấy tiền công sạc pin 600.000 đồng. Do sợ liên lụy nên Thành T2 kêu bị cáo Đ đưa điện thoại cho Thành Tài giữ, Thành T2 giao nộp cho Trịnh Hoàng G (chiến sỹ nghĩa vụ). Thành Tài nói điện thoại của bị cáo Đ nên G gọi cho T1 đến lấy điện thoại nhưng T1 không lấy mà kêu G ném bỏ. Sau đó, G mang điện thoại ném bỏ, cục P2 điện thoại Thành Tài xin G giữ lại nhưng không nói rõ làm gì. Sau khi điện thoại bị ném bỏ, bị cáo Đ kêu Thành Tài nếu có điện thoại thì cho bị cáo Đức mượn. Thành Tài thấy tại kệ tủ ở khu vực bếp (nơi để đồ lưu ký của can phạm) có 01 điện thoại hiệu Nokia (loại phím bấm) nên đã đưa cho bị cáo Đ trong một lần vào phòng 1D thay bóng đèn.
Ngày 09/01/2024, bị cáo Trương Lê Phước T3 bị Công an thành phố C bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và được bố trí giam tại buồng 1D cùng với các bị cáo Đ, P, S. T3 nói cho bị cáo Đ biết nhà T3 ở phía sau cặp vách hàng rào của Nhà tạm giữ nên bị cáo Đ bàn bạc, bị cáo Đ cho bị cáo Phước T3 mượn điện thoại di động N gọi điện thoại vào số 0945.431.xxx của Lê Thị T4 (mẹ đẻ của bị cáo Phước T3), nhờ bà T4 hỗ trợ dẫn đường vào vườn để gửi đồ vào cho bị cáo Đ và bị cáo Phước T3 nên bà T4 đồng ý (do khi bị cáo Phước T3 mới bị bắt, T4 đã đi theo tường rào xung quanh Nhà tạm giữ để gọi tìm bị cáo Phước T3 nên bà T4 biết vị trí buồng giam của bị cáo Phước T3 ngay đối diện bụi tre cao phía sau tường rào). Sau đó, các bị cáo Phước T3, S, P dùng túi nylon se thành sợi dây dài khoảng 07 mét, lấy cơm nguội để túi nylon làm vật nặng, sử dụng dây thun bắn ra ngoài hàng rào từ lỗ bóng đèn của buồng giam để nhận đồ của mẹ bị cáo Phước T3 gửi vào. Từ đó, bị cáo Đ nảy sinh ý định tìm mua ma túy để sử dụng nên bị cáo Đ hỏi các bị cáo Phước T3, S, P có dùng ma túy không để bị cáo Đ gọi người chuyển ma túy vào các bị cáo Phước T3, P và S đều đồng ý. Bị cáo Đ gọi điện thoại hỏi thăm một số người bên ngoài xã hội thì xin được số điện thoại 0399.965.xxx của bị cáo Nguyễn Quốc V (V) hỏi mua ma túy nhưng bị cáo V không có bán, bị cáo V hứa sẽ nhận tiền để mua ma túy giúp bị cáo Đ ma túy đưa vào buồng giam. Bị cáo Đ hướng dẫn bị cáo V đến nhà bị cáo Phước T3 gặp T4 để T4 chỉ đường cho bị cáo V gửi đồ vào cho bị cáo Đ. Khi có thông của bị cáo V từ bên nhà bà T4 thì bị cáo Đ đứng ở cửa buồng giam cảnh giới, còn các bị cáo P, S đứng trên bệ xi măng của bồn cầu, bị cáo Phước T3 đứng trên vai của các bị cáo P và S để tháo bóng đèn, đưa 01 tay cầm đầu dây có quấn cục cơm ra ngoài, tay còn lại cầm dây thun kéo dãn tạo lực bắn cục cơm nguội qua hàng rào, sau nhiều lần bắn bị cáo Phước T3 thực hiện thành công, bị cáo V ở bên ngoài hàng rào buộc các đồ vật vào sợi dây, ném ngược vào bên trong hàng rào, bị cáo T3 sẽ thu dây kéo đồ vật và để lấy ma túy vào buồng giam để cùng nhau sử dụng và sợ phát hiện nên bị cáo Đ cất giấu nhiều nơi trong buồng giam.
Với cách thức giao nhận ma túy như trên, từ cuối tháng 01/2024 đến ngày 15/3/2024, bị cáo Đ nhiều lần gọi điện cho bị cáo V nhờ mua ma túy 03 lần cùng một số đồ vật gửi vào cho bị cáo Đ sử dụng. Ma túy, bị cáo V mua của người tên T3 (không rõ nhân thân) ở khu vực phường N, thành phố C, sau đó chuyển vào buồng giam cho bị cáo Đ. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 01/2024, theo chỉ dẫn của bị cáo Đ qua điện thoại, bị cáo V đến nhà của Đỗ Thị Thu N1 (chị của bị cáo Đ), gặp N1 lấy 2.000.000 đồng và đến khu vực phường N, mua ma túy của T3 “25 số” giá 1.700.000 đồng; 01 cây thuốc lá hiệu Hero, giá 200.000 đồng; 05 cái bật lửa, giá 25.000 đồng. Tổng cộng 1.925.000 đồng. Bị cáo V đến nhà T4, T4 dẫn bị cáo V ra phía sau vườn tiếp giáp với hàng rào Nhà tạm giữ, gửi ma túy và số đồ vật đã mua của bị cáo T3 vào bên trong buồng giam cho bị cáo Đ như cách thức nêu trên. Số ma túy, thuốc lá, bật lửa có được bị cáo Đ cất giấu để sử dụng. Các bị cáo Đ, Phước T3, S, P cùng nhau sử dụng ma túy đá nhiều lần, bằng cách dùng bật lửa hơ nóng trên giấy bạc hít trực tiếp, sử dụng khoảng từ 15 ngày đến 20 ngày thì hết. Khi sử dụng ma túy, các bị cáo Đ, Phước T3, S, P thay phiên nhau cảnh giới để những người còn lại sử dụng.
Lần thứ hai: Đến khoảng tháng 02/2024, bị cáo Đ gọi điện thoại cho bị cáo V nhờ V mua ma túy, thuốc lá, 02 cục pin điện thoại (loại cho điện thoại Nokia phím bấm), 02 bật lửa và xin thêm 01 cái “nỏ thủy tinh”, để sử dụng ma túy. Bị cáo V đến gặp N1 để lấy 2.000.000 đồng và mua ma túy đá của T3 “25 số” giá 1.700.000 đồng; 01 cây thuốc lá hiệu Hero và 05 cái bật lửa, giá 200.000 đồng, tổng cộng 1.900.000 đồng, cái “nỏ thủy tinh” bị cáo V lấy của bị cáo V từ nhà để mang cho bị cáo Đ. Sau đó, bị cáo V đến nhà gặp T4, T4 gửi cho V 01 túi nylon màu đen, bên trong có 02 điện thoại di động (01 cái hiệu Oppo và 01 cái hiệu N2, bên trong có sim số 0852.851.282). bị cáo V để 02 điện thoại di động chung cùng túi nylon màu đen với cây thuốc lá, ma túy, bật lửa, nỏ. Xong, T4 dẫn bị cáo V đến chỗ tường rào Nhà tạm giữ phía sau buồng giam của bị cáo Đ. Các bị cáo V và Đ gọi cho nhau để xác định bị cáo V đã đến và gửi toàn bộ đồ đã mua của T3 và do T4 gửi vào bên trong buồng giam cho Đ như cách thức trên. Số ma túy, thuốc lá, bật lửa, điện thoại vừa nhận được đều do bị cáo Đ cất giấu để sử dụng. Sau khi nhận ma túy, các bị cáo Đ, Phước T3, S và P cùng nhau sử dụng bằng cách để ma túy vào “nỏ thủy tinh” và dùng bật lửa hơ nóng, hít trực tiếp khói ma túy và sử dụng nhiều lần trong khoảng 15 đến 20 ngày thì hết ma túy. Sau khi có được điện thoại O, Đ đăng nhập Zalo, kết bạn, nhắn tin trao đổi với N1 và Nguyễn Thiện C1 (cháu của Đ, con của N1) để nhờ C1 nhận tiền chuyển khoản, rút tiền đưa cho N1 để đưa tiền cho bị cáo V.
Lần thứ ba: Ngày 07/3/2024, bị cáo Đ gọi điện thoại cho bị cáo V, nhờ bị cáo V mua ma túy, thuốc lá và 02 cục pin điện thoại gửi cho bị cáo Đ. Bị cáo Đ kêu bị cáo V đến gặp N1 lấy 2.000.000 đồng, bị cáo V đến gặp N1 để lấy 2.000.000 đồng và mua ma túy đá của T3 “25 số” giá 1.700.000 đồng; 01 cây thuốc lá hiệu Hero giá 200.000 đồng, 02 cục pin giá 100.000 đồng, tổng cộng 2.000.000 đồng. Xong, bị cáo V đến gặp T4 gửi thêm cho V 01 túi nylon màu đen bên trong có 01 cục sạc điện thoại (do trước đó Phước T3 gọi điện cho T4 kêu T4 chuẩn bị trước). V để chung tất cả với nhau trong túi nylon màu đen rồi gửi toàn bộ số đồ vật này vào bên trong buồng giam cho bị cáo Đ như cách thức những lần trước. Sau khi nhận được ma túy và đồ vật, Đ cất giữ nhiều nơi trong buồng giam và cùng các bị cáo Phước T3, S, P sử dụng ma túy như những lần trước.
Trưa ngày 14/3/2024, các bị cáo Đ, Phước T3, P và S tiếp tục lấy ma túy sử dụng và thay phiên nhau cảnh giới, số ma túy còn lại bị cáo Đ cất giấu. Sáng ngày 15/3/2024, bị cáo Đ lấy ma túy còn lại ra và cả 04 người sử dụng hết. Chiều cùng ngày, bị cáo Đ được trích xuất ra làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C thì bị phát hiện nghi vấn sử dụng chất ma túy nên đã tiến hành tách buồng giam đối với 04 bị can ở buồng 1D như sau: Buồng giam 10D, 02 bị cáo Đỗ Minh Đ và Trần Tấn P. Buồng giam 1B, 02 bị cáo Dương Tuấn S và Trương Lê Phước T3. Ngày 16/03/2024, Nhà tạm giữ Công an thành phố C tiến hành kiểm tra đột xuất phòng 10D, nơi đang tạm giam các bị cáo Đỗ Minh Đ và Trần Tấn P, phát hiện thu giữ: 03 điện thoại di động (01 Oppo, 02 Nokia) và nhiều vật cấm mang vào buồng giam. Bị cáo Đ khai nhận số đồ vật trên là của bị cáo Đ mang từ buồng 1D sang buồng 10D. Sau khi kiểm tra, Công an thành phố C đã tiếp tục đổi buồng giam, bố trí các bị cáo Đ và Phước T3 ở cùng buồng 10D và các bị cáo P, S ở cùng buồng 1B. Đến ngày 17/3/2024, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ C4 phối hợp Cục Cảnh sát quản lý thi hành tạm giữ tạm giam Bộ C4 và các đơn vị chức năng thuộc Công an tỉnh A tổng kiểm tra tất cả buồng tạm giam, tạm giữ, test nhanh chất ma túy đối với 97 can phạm nhân trong 38 buồng. Kết quả các bị cáo Đỗ Minh Đ, Trương Lê Phước T3, Trần Tấn P và Dương Tuấn S dương tính với ma túy loại Methamphetamine và thu giữ nhiều vật cấm mang vào buồng giam.
Kết luận giám định số 238/KL-KTHS(MT-GT) ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, xác định: 01 hộp giấy được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Lê Hoàng T5, Võ Hữu T6, Phan Công T7, Trần Thiện G1. Bên trong có 01 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1742g; 01 hộp giấy được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Lê Hoàng T5, Võ Hữu T6, Lương Văn H4, Phan Công T7, Diệp Huy C2. Bên trong có 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2113g.
Kết luận giám định số 1957/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C4, ghi nhận mẫu nước tiểu của Đỗ Minh Đ, Trương Lê Phước T3 và Trần Tấn P gửi giám định tìm thấy thành phần Methamphetamine; mẫu nước tiểu của Dương Tuấn S không tìm thấy chất ma túy.
Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 03 điện thoại di động (ký hiệu: A1 - A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD lưu trữ dữ liệu trích xuất kèm theo. Kèm theo kết luận giám định 01 DVD, tổng dung lượng lưu trữ 1,62GB.
Kết luận giám định số 479/KL-KTHS ngày 14/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 05 điện thoại di động (ký hiệu: A1 - A5) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong USB lưu trữ dữ liệu trích xuất kèm theo. Kèm theo kết luận giám định 01 USB nhãn hiệu kingston loại dung lượng 128GB (lưu trữ dữ liệu 68,3GB).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định: tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V, Trương Lê Phước T3, Dương Tuấn S, Trần Tấn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm a, b, h khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 12 (mười hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 20 (hai mươi) năm tù. Thời tù tính từ ngày 20/3/2024; Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 10 (mười) năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 194/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 23 (hai mươi ba) năm tù. Thời tù tính từ ngày 27/10/2023. Ngoài ra, còn tuyên xử phạt Lê Phước T3 08 (tám) năm tù, Dương Tuấn S 07 (bảy) năm tù, Trần Tấn P 07 (bảy) năm tù và tuyên tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo T3, S, P; tuyên về xử lý vật chứng; tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/4/2025, các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với lý do mức hình phạt quá cao so với hành vi phạm tội của các bị cáo Đ, V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu và có quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V, giữ nguyên bản án sơ thẩm; Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Các bị cáo Đỗ Minh Đ, Trương Lê Phước T3, Trần Tấn P, Dương Tấn S1 là phạm nhân đang bị giam, giữ tại buồng giam 1D thuộc Nhà tạm giữ C thành phố C (nay là P1 trại tạm giam khu vực C). Trong thời gian bị giam giữ, bị cáo Đ yêu cầu vợ là Lê Thị Thanh T1 gửi điện thoại di động giấu trong hộp thực phẩm để sử dụng và khi biết được nhà bị cáo T3 sát vách nhà tạm giữ nên bị cáo Đ bàn bạc với các bị cáo tìm người mua ma túy sử dụng. Bị cáo Đ sử dụng điện thoại gọi cho bị cáo V nhờ mua ma túy, loại Methamphetamine cùng các vật dụng chuyển từ nhà bị cáo Phước T3 vào buồng giam 1D để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội từ tháng 01 đến tháng 3 năm 2024 thì bị phát hiện, điều tra. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo Đ và V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, cho nhiều người được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015. Riêng đối với bị cáo V có 02 tiền án vào năm 2019 và 2022, đã tái phạm chưa được xóa án tích nay phạm tội mới do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt quy định tại h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015. Có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm.
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 và bị cáo V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đ, V. Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp công tác quản lý phạm nhân tại nơi giam, giữ. Trong vụ án này, bị cáo Đ có vai trò chính, nhiều lần yêu cầu bị cáo V mua ma túy, công cụ để tổ chức sử dụng ma túy nên bị cáo Đ, V phải chịu hình phạt cao hơn so đối với vai trò các đồng phạm khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 13 năm tù và Nguyễn Quốc V 12 năm tù, là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà các bị cáo đã gây ra. Chấp nhận quan điểm đại diện Viện kiểm sát; Yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đ, V không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2024/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 10 (mười) năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 194/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 23 (hai mươi ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/10/2023.
Căn cứ vào điểm a, b, h khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 12 (mười hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2024.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Đỗ Minh Đ, Nguyễn Quốc V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 86/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 86/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
