TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 86/2025/HS-PT Ngày 27 tháng 6 năm 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Nguyễn Thị Hương Giang
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên
Ngày 27/6/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 75/TLPT-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Lục Văn L, Lục Văn B, Trương Văn L1, Lê Thị T, do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Lục Văn L, sinh năm 1971; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 0/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; bố đẻ: Lục Văn T1 (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1943; gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1972; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1993.
Tiền án: Chưa có.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số: 3477/QĐ-UBND ngày 15/5/2023 của Ủy ban nhân dân huyện L xử phạt bị cáo 7.500.000 đồng.
Bị cáo đầu thú ngày 16/8/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà (có mặt).
2. Họ và tên: Trương Văn L1, sinh năm 1973; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn G, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Trương Văn T3 (đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị M, sinh năm 1931; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là thứ 07 trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị D, sinh năm 1973; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân:
- + Bản án số 97/2012/HSST ngày 30/10/2012, Tòa án nhân dân thị xã Chũ xử phạt 06 tháng tù, về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.
- + Bản án số 102/2013/HSST ngày 26/11/2013, Tòa án nhân dân thị xã Chũ xử phạt 06 tháng tù, về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt với bản án số 97/2012/HSSTngày 30/10/2012 buộc phải chấp hành hình phạt chung là 12 tháng.
Bị cáo đầu thú ngày 15/8/2024, được áp dụng bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).
3. Họ và tên: Lục Văn B, sinh năm 1974. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Lục Văn T1 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1943; Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là thứ 03 trong gia đình; Vợ: Diệp Thị B1, sinh năm 1977; Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2006;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/6/1995 bị Công an thị xã C khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 28/7/2024 đến ngày 06/8/2024 được thay thế biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).
4. Họ và tên: Lê Thị T, sinh năm 1974; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Lê Văn C, sinh năm 1939; Mẹ đẻ: Lương Thị L2, sinh năm 1939; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là thứ 02 trong gia đình; Chồng: Nguyễn Trọng K (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân:
- + Bản án số 126/HSST ngày 10/8/2004, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.
- + Bản án số 78/2016/HSPT ngày 29/7/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/6/2017.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/7/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại ( có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 08 bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 45 phút ngày 28/7/2024, tại phòng khách nhà ở của Vũ Thị D1, sinh năm 1973 ở thôn Đ, xã Đ, huyện L, Công an huyện L phối hợp với Công an xã Đ, huyện L kiểm tra bắt quả tang các đối tượng Phí Thị V, sinh năm 1964 ở thôn T, xã Đ, huyện L; Lê Thị T, sinh năm 1974 ở thôn Đ, xã T, huyện L; Lục Văn B, sinh năm 1974 ở thôn B, xã Q, huyện L (nay là thị xã C); Leo Văn S, sinh năm 1985 ở thôn P, xã Q, thị xã C; Tô Văn B2, sinh năm 1974 ở thôn Đ, xã Đ, huyện L đang có hành vi đánh bạc, hình thức đánh ba cây sát phạt nhau bằng tiền. Ngoài ra còn có Vũ Thị D1 (là chủ nhà) có mặt khi bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 8.600.000 đồng trong lọ hoa trên ban thờ; 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài có một mặt màu đỏ; 06 tấm xốp màu xanh có kích thước (80 x 80) cm.
Kiểm tra, thu giữ trên người các đối tượng: Phí Thị V số tiền 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen; Lê Thị T số tiền 210.000 đồng; Tô Văn B2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A76 màu đen; Lục Văn B số tiền 45.000 đồng và 01 điện thoại Redmi màu xanh XIAOMI REDMI Note 12 màu xanh.
Thu giữ tại sân nhà Vũ Thị D1 gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yalim RSX, màu xanh, biển kiểm soát (BKS) 98AB-069.15; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 98B3-590.47; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh bạc, BKS 98B2-261.17; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vission, màu vàng bạc đen, BKS 98B1-397.43; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 98E1-584.66; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS 98E1-268.84; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen xám trắng, BKS 98E1-072.13; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vission, màu đen xám, BKS 98E1-640.31; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh đen đỏ, BKS 12D1-017.05; 01 xe mô tô nhãn hiệu Supper Dream, màu nâu, BKS 98L3-2302.
Ngày 29/7/2024, Lê Thị L3, sinh năm 1975 ở thôn N, xã Q, thị xã C; Viên Văn T4, sinh năm 1995 và Tạ Văn H1, sinh năm 1983 cùng ở thôn T, xã Q, thị xã C đến Công an huyện L đầu thú. Sau khi bắt quả tang và các đối tượng L3, T4, H1 ra đầu thú đều khai nhận là hình thức các đối tượng đánh bạc với nhau là đánh xóc đĩa, chứ không phải là đánh ba cây như lúc bắt quả tang khai (các đối tượng nghĩ là khai đánh ba cây sẽ nhẹ tội hơn nên khi bắt quả tang các đối tượng khai như vậy). Ngày 29/7/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng, thu giữ: 01 bát con sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng ở khu vực mặt bếp và 04 quân vị hình vuông bằng tre, một mặt được tô màu đen ở phía sau cửa sổ sau nhà Vũ Thị D1.
Ngày 14, 15 và 16/8/2024, Tạ Văn M1, sinh năm 1973 ở thôn P, xã Q, thị xã C; Trương Văn L1, sinh năm 1973 ở thôn G, xã Q, thị xã C; Lục Văn L, sinh năm 1971 ở thôn B, xã Q, thị xã C đến Công an huyện L đầu thú về hành vi đánh bạc ngày 28/7/2024.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau: Trưa ngày 28/7/2024, Tô Văn B2 gọi điện thoại cho Trương Văn L1 và Leo Văn S đến thôn Đ, xã Đ, huyện L để đánh bạc, L1 và S đồng ý. Sau đó, L1 rủ Tạ Văn H1, Viên Văn T4, Lê Thị L3 đến nhà B2 đánh bạc. Khoảng 13 giờ cùng ngày có Lục Văn B, Tạ Văn M1, Lục Văn L cũng vào nhà B2 chơi, tại đây B2 đưa L1, T4, L3, B, M1, L đến nhà Vũ Thị D1 để đánh bạc. Khi đến nhà D1, B2 hỏi D1 cho đánh bạc ở nhà D1, D1 đồng ý. Khi các đối tượng đang ngồi ở sân nhà D1 thì có Leo Văn S, Lê Thị T, Phí Thị V cũng đến để đánh bạc. Sau đó các đối tượng thống nhất hình thức đánh bạc là đánh xóc đĩa, L1 lấy thanh tre cắt thành 04 quân vị hình vuông có một mặt bôi màu đen, L xuống bếp nhà D1 lấy 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng lên để ở gian phòng khách nhà D1. Sau khi chuẩn bị xong Lìu, L1, S, T4, L3, B2, Ba, M1, V, T sử dụng các tấm xốp ở phòng khách để ngồi và bắt đầu đánh bạc, hình thức đánh xóc đĩa, L là người xóc cái cho các đối tượng đánh bạc.
Khi các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì có Tạ Văn H1 đến cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày thì H1 bị thua hết tiền đi ra sân nhà D1 thì đúng lúc này Công an huyện L phối hợp với Công an xã Đ, huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Khi thấy Công an thì B2 vơ tiền dưới chiếu bạc để vào trong bình hoa trên ban thờ nhà D1, còn các đối tượng còn Lục Văn L, Tạ Văn M1, Lê Thị L3, Trương Văn L1, Tạ Văn H1, Viên Văn Tư lợi D2 sơ hở đã bỏ trốn.
Về số tiền thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ trên người các đối tượng khai nhận dùng vào việc đánh bạc như sau:
- - Phí Thị V khai trước khi tham gia đánh bạc có 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua bạc còn 1.000.000 đồng dùng đánh bạc để trên người đã bị thu giữ.
- - Lục Văn B khai trước khi tham gia đánh bạc có 545.000 đồng, B bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt đã thua hết tiền. Số tiền 45.000 đồng thu giữ trên người không dùng để đánh bạc.
- - Lê Thị T khai trước khi tham gia đánh bạc có 510.000 đồng, T bỏ ra 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để dưới chiếu bạc. Số tiền 210.000 đồng thu giữ trên người không dùng để đánh bạc.
- - Leo Văn S khai trước khi tham gia đánh bạc có 2.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để trên chiếu bạc.
- - Tô Văn B2 khai trước khi tham gia đánh bạc có 700.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để trên chiếu bạc đã bị thu giữ.
- - Viên Văn T4 khai trước khi tham gia đánh bạc có 1.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt đã thua hết.
- - Tạ Văn H1 khai trước khi đánh bạc có 250.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt đã thua hết.
- - Lê Thị L3 khai trước khi tham gia đánh bạc có 800.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt đã thua hết.
- - Lục Văn L khai trước khi tham gia đánh bạc có 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để trên chiếu bạc đã bị thu giữ.
- - Trương Văn L1 khai trước khi tham gia đánh bạc có 300.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để trên chiếu bạc đã bị thu giữ.
- - Tạ Văn M1 khai trước khi tham gia đánh bạc có 300.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để trên chiếu bạc đã bị thu giữ.
Tổng số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 9.600.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố các bị cáo: Lục Văn L, Trương Văn L1, Tạ Văn M1, Phí Thị V, Tô Văn B2, Lê Thị L3, Lục Văn B, Viên Văn T4, Leo Văn S, Lê Thị T, Tạ Văn H1, Vũ Thị D1 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã xét xử và quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lục Văn L 10 (mười) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
- Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn L1 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
- Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lục Văn B 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 28/7/2024 đến ngày 06/8/2024 (09 ngày). Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
- Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị T 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh và hình phạt với 08 bị cáo còn lại, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 19/3/2025, bị cáo Lê Thị T kháng cáo phần hình phạt bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo.
Ngày 20/3/2025, các bị cáo Lục Văn L, Lục Văn B kháng cáo phần hình phạt bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo.
Ngày 25/3/2025, bị cáo Trương Văn L1 kháng cáo phần hình phạt bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo Lục Văn L và bị cáo Trương Văn L1 trình bày: Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo về tội danh là đúng người, đúng tội không oan sai, mức hình phạt mà tòa án Lục Nam xử là có căn cứ phù hợp với quy định của Pháp luật. Do vậy các bị cáo L1 và bị cáo L xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Bị cáo Lục Văn B trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan sai gì tuy nhiên mức hình phạt 08 tháng tù là nặng. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp tiền phạt và án phí, nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Lê Thị T trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan sai gì tuy nhiên mức hình phạt 08 tháng tù là nặng. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và bị cáo xin rút phần kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 355; Điều 342; Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử Phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lục Văn L và Trương Văn L1. Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có hiệu lực Pháp luật thi hành kể từ ngày ra Quyết định đình chỉ xét xử Phúc thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c,e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lục Văn B và bị cáo Lê Thị T. Sửa bản án sơ thẩm:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lục Văn L, Trương Văn L1, Lục Văn B, Lê Thị T nộp đúng thời hạn và có nội dung theo đúng quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp lệ. Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tang vật thu giữ được về thời gian xảy ra vụ việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 28/7/2024, tại phòng khách nhà ở của Vũ Thị D1 các đối tượng Lục Văn L, Trương Văn L1, Tạ Văn M1, Phí Thị V, Tô Văn B2, Lê Thị L3, Lục Văn B, Viên Văn T4, Leo Văn S, Lê Thị T, Tạ Văn H1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã Đ, huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Vũ Thị D1 là chủ nhà không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng D1 đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà nên D1 đồng phạm về tội “Đánh bạc”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.600.000 đồng.
Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Lục Văn L có vai trò chính trong vụ án. Khi tham gia đánh bạc, bị cáo là người cầm cái, điều khiển cuộc chơi, bị cáo đã sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Trương Văn L1 có 300.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt tiền được thua để trên chiếu bạc đã bị thu giữ. Bị cáo Lục Văn B có 545.000 đồng, đã bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, bị cáo đã thua hết tiền, còn lại số tiền 45.000 đồng thu giữ trên người không dùng để đánh bạc. Bị cáo Lê Thị T khai trước khi tham gia đánh bạc có 510.000 đồng, T bỏ ra 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để dưới chiếu bạc. Số tiền 210.000 đồng thu giữ trên người không dùng để đánh bạc. Hành vi vừa nêu của các bị báo đã phạm vào tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét việc rút đơn kháng cáo của bị cáo Lục Văn L và bị cáo Trương Văn L1: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Lục Văn L và bị cáo Trương Văn L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cả hai bị cáo xác nhận bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt các bị cáo về tội danh là đúng người, đúng tội không oan sai, mức hình phạt mà tòa án Lục Nam xử là có căn cứ phù hợp với quy định của Pháp luật. Do vậy các bị cáo L1 và bị cáo L xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét thấy, việc rút đơn kháng cáo của hai bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Do vậy, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 355; Điều 342; Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung xin rút kháng cáo của các bị cáo.
[4] Kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lục Văn B:
Tại cấp sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo theo lý lịch của bị cáo được xác nhận năm 1995 bị cáo bị Công an xã thị xã C khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, qua tra cứu tài liệu xác định nhân thân của bị cáo tại cơ quan Công an thị xã C, Công an huyện L, Viện kiểm sát, Tòa án huyện L đều không tìm thấy tài liệu nào liên quan đến việc xét xử đối với hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra năm 1995. Nên không có căn cứ để xác định bị cáo đã bị Tòa án xét xử bằng một bản án. Do đó Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thiếu xót.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Lục Văn B đã nộp tiền phạt, án phí và cung cấp tài liệu chứng minh đã ủng hộ đồng bào bão lụt, ngoài ra cần áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét đây là những tình tiết mới nên bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại khoản Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[5] Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thị T:
Tại cấp sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị Toà án xử phạt về tội “Đánh bạc” và tội “Chứa mại dâm”. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo xin rút nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và bị cáo đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy tại cấp Phúc thẩm bị cáo T đã có ý thức chấp hành bản án và đã tự nguyện nộp khoản tiền phạt và án phí, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bỏ đi đã lâu, một mình nhận nuôi 4 cháu nhỏ do người khác bỏ rơi. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của Pháp luật.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Tại phiên tòa bị cáo Lục Văn L, Trương Văn L1 rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Do kháng cáo của bị cáo Lục Văn B và Lê Thị T được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 355; Điều 342; Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử Phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lục Văn L và bị cáo Trương Văn L1. Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có hiệu lực pháp luật thi hành đối với bị cáo Lục Văn L và Trương Văn L1 kể từ ngày ra Quyết định đình chỉ xét xử Phúc thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c,e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lục Văn B và bị cáo Lê Thị T. Sửa bản án sơ thẩm:
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Lục Văn B 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Lục Văn B cho UBND xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
1.2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Lê Thị T 06 (Sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
2. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lục Văn B và Lê Thị T, Lục Văn L và Trương Văn L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Lục Văn B đã nộp 10.155.000 đồng tại biên lai số 0003218 ngày 18/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Lê Thị T đã nộp 9.990.000đồng tại biên lai số 0003222 ngày 20/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, để nộp phạt tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt bổ sung theo Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Chung |
Bản án số 86/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 86/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục Văn Lìu cùng đồng phạm đánh bạc
