Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28/11/2025

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Việt Tím
  2. Ông Phạm Văn Động

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2025/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé T, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Số B, tổ A, ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

Tạm trú: Số C, ấp P, xã T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Đào Văn B, sinh năm: 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, tổ A, ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/3/2025 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án tại phiên toà nguyên đơn chị Trần Thị Bé T trình bày:

Chị Trần Thị Bé T và anh Đào Văn B chung sống với nhau vào ngày 19 tháng 6 năm 2014 có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã T, tỉnh An Giang) ngày 27/5/2014. Trước

khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, bất đồng quan điểm về kinh tế, mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng và không thể hàn gắn.

Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vợ chồng đã ly thân hơn 1 năm nay.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung tên Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022. Hiện nay các con đang ở với với chị T.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị T xin rút lại phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé T yêu cầu được ly hôn với anh Đào Văn B.

- Về con chung: Chị Trần Thị Bé T yêu cầu được nuôi 03 con chung tên Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đào Văn B trình bày theo bản tự khai 12 tháng 5 năm 2025:

Anh và chị T chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 27/5/2014. Trước khi cưới vợ chồng có tìm hiểu nhau khoảng 6 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về tài chính, dẫn đến cải vã. Ngoài ra không có mâu thuẫn gì lớn.

Về con chung vợ chồng có 3 con chung tên Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022 hiện nay các con đang ở bên ngoại.

Về tài sản chung: Có một miếng đất thổ cư và đất ruộng ngang 15m, dài 500m, trên đất thổ cư có một căn nhà cấp 4 tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh An Giang (đất này do cha mẹ anh tặng cho riêng anh) và 01 nền nhà ngang 6m, dài 14,5m vợ chồng mua năm 2023 trên đất có 1 căn nhà cấp 4, nhà dưới mé sông vợ chồng chưa được đứng tên giấy. Anh không yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án này để vợ chồng tự thỏa thuận.

Về phần nợ không có, không có không yêu cầu giải quyết.

Tại Tòa án anh B có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị T vì anh còn thương vợ con. Trong trường hợp chị T cương quyết ly hôn thì Tòa cứ xét xử theo quy định pháp luật.

Về con chung: Anh yêu cầu nuôi 3 con chung không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phần nợ: Không có, không có không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng bị đơn anh Đào Văn B đang cư trú tổ C, ấp T, xã T, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Đào Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đào Văn B.

[3] Tại phiên tòa nguyên đơn xin rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc rút một phần khởi kiện của phía nguyên đơn.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bé T và anh Đào Văn B chung sống với nhau vào ngày 19 tháng 6 năm 2014 có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã T, tỉnh An Giang) ngày 27/5/2014, số 33/2014, quyển số: 01/2014 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[5] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Trần Thị Bé T Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn, chị T và anh B chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì

phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bất đồng quan điểm về kinh tế, có lối sống không phù hợp, mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng và không thể hàn gắn. Chị T và anh B đã nhiều lần nếu kéo cuộc hôn nhân nhưng không mang lại kết quả. Hiện nay anh chị đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; .... Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,……”.

[6.1] Đối với ý kiến của anh B không đồng ý ly hôn với chị T mà xin được đoàn tụ, xét yêu cầu xin được đoàn tụ của anh B là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, trong quá trình chung sống giữa anh và chị T luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp mặc dù anh B đã nhiều lần hàn gắng với chị T quay về đoàn tụ để nuôi dạy con chung, nhưng chị T dẫn cương quyết ly hôn với anh B. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn....”.

[6.2] Đối với anh Đào Văn B Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng cho anh B tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên anh B và chị T quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án về ý kiến và yêu cầu của mình. Đều này chứng tỏ anh B bỏ mặc không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị T nữa. Từ những nội dung trên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bé T.

[7] Về con chung: Chị T và anh B xác nhận vợ chồng có 03 con chung Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022 hiện nay cháu các con đang ở với nhà chị T .

Chị B1 T yêu cầu được nuôi 03 đứa con không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Anh B cũng có yêu cầu nuôi 03 đứa con không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Theo nguyện vọng của cháu Thiên T1 và cháu Hạ V có nguyện vọng ở với mẹ còn cháu Tuấn Đ còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con ”.

Hiện nay chị T có công việc ổn định thu nhập hàng tháng trên 15 triệu đồng, hiện nay các con đang ở với chị T có nơi ở ổn định. Hiện nay anh B đi làm xa không có mắc ở địa phương.

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử chấp yêu cầu xin được nuôi con của chị Trần Thị Bé T. Tiếp tục giao con Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022 cho chị Trần Thị Bé T trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Đào Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn Bộ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[8] Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về phần nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bé T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51,56,69,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bé T.
  2. Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé T được ly hôn với anh Đào Văn B.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao con Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022 cho chị Trần Thị Bé T trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Đào Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn Bộ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về phần nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bé T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số: 47 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Bé T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang
  • - VKSND Khu Vực 3;
  • - THA dân sự tỉnh An Giang;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Danh Vũ

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 8 giờ 30 phút, ngày 28 tháng 11 năm 2025

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 3 tỉnh An Giang.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Đ1
  2. Bà Nguyễn Thị Việt T2

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé T, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Số B, tổ A, ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Đào Văn B, sinh năm: 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, tổ A, ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bé T.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé T được ly hôn với anh Đào Văn B.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về con chung: Tiếp tục giao con Đào Trần Thiên T1, sinh ngày 02/01/2016, Đào Trần Hạ V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 và cháu Đào Tuấn Đ, sinh ngày 25 tháng 03 năm 2022 cho chị Trần Thị Bé T trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Đào Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn Bộ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về phần nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bé T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số: 47 ngày 17/4/2025 của Thi hành dân sự tỉnh Kiên Giang. (Nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – An Giang).

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Bé T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

Nghị án kết thúc vào hồi ..... giờ ..... phút, ngày 18 tháng 11 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HIỆP

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ..... giờ 00 phút, ngày 21 tháng 12 năm 2020

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Khắc V1
  2. Ông Nguyễn Ngọc C1

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số:213/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2020 về việc “ tranh chấp ly hôn” giữa:

1/. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Như H, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

2/. Bị đơn: Anh Vũ Viết T3, sinh năm: 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà B, ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Như H.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Như H được ly hôn với anh Vũ Viết T3.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về con chung: Tiếp tục giao cháu tên Vũ Ngọc Uyên N, sinh ngày 16/6/2013 cho chị H trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Anh T3 không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh T3 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh T3 không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Như H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí

đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0008024 ngày 16/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Chị H đã nộp đủ.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

  1. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Như H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Viết T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Kết quả biểu quyết 3/3 thống nhất

Nghị án kết thúc vào hồi ..... giờ....... phút, ngày 21 tháng 12 năm 2020.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng

  • Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Thảo yêu cầu ly hôn với anh Bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger