Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phan Văn Cường.

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 222/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1975; thường trú: Số E T, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số F Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết mặt).
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1971; thường trú: Số E T, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số F Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 05/5/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc D và anh Lê Văn Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79/1999, quyển số 01/P9 ngày 11/10/1999. Việc kết hôn giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, khoảng một năm gần đây thì hai

vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn về kinh tế, anh Q không có trách nhiệm trong gia đình, không chịu đi làm từ năm 2020 đến nay để chị D phải gánh vác kinh tế dẫn đến cuộc sống ngày càng ngột ngạt, không có niềm vui. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay, chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh Q. Công việc của chị D hiện tại là phụ chị gái bán quán cà phê với mức thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng. Do chị D làm việc tự do nên không thể cung cấp bảng lương cho Tòa án.

- Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh Q có 02 con chung tên Lê Quang Kim K, sinh ngày 28/6/2009 và Lê Quang K1, sinh ngày 28/5/2003. Sau ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu K1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị đơn anh Lê Văn Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất về thời gian chung sống và kết hôn như chị D đã trình bày. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cụ thể về vấn đề kinh tế trong gia đình nên dẫn đến thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Từ năm 2023 trở về trước, anh Q làm nhân viên giao hàng, do thu nhập thấp nên anh Q đã nghỉ làm ở nhà từ năm 2023 đến nay. Từ khi anh nghỉ việc chị D là người chăm lo kinh tế trong gia đình. Anh Q xác định tình cảm giữa anh và chị D vẫn còn nên không đồng ý ly hôn. Hiện nay, anh Q không đi làm nên không thể cung cấp được bảng lương cho Tòa án để làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Về con chung: Anh Q và chị D có 02 con chung là cháu Lê Quang Kim K, sinh ngày 28/6/2009 và Lê Quang K1, sinh ngày 28/5/2003. Trường hợp Tòa án chấp nhận theo yêu cầu của chị D thì anh Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu K1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Võ Thị Ngọc D và anh Lê Văn Q tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường T và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Võ Thị Ngọc D không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường T tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường T, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng chị Võ Thị Ngọc D và anh Lê Văn Q. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa ông, bà thì Hội liên hiệp phụ nữ phường T không biết được.

2

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Q đã có những mâu thuẫn trầm trọng. Do vậy, việc chị D yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: Xét thấy từ năm 2023 đến nay, chị D là người chăm lo kinh tế trong gia đình, anh Q không có công việc làm nên không có thu nhập, hơn nữa cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao cháu K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do chị D và anh Q không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc D và bị đơn anh Lê Văn Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc D và anh Lê Văn Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79/1999, quyển số 01/P9 do Ủy ban nhân dân Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/1999 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị D và anh Q thừa nhận, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn về kinh tế trong gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, anh Q không có công việc làm nên chị D phải chăm lo toàn bộ kinh tế trong gia đình. Anh Q cho rằng mình vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn.

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Thực tế, anh Q không có sự quan tâm, chia sẻ với chị D trong cuộc sống hôn nhân như chăm sóc, nuôi dạy con, vấn đề về kinh tế trong gia đình. Anh Q không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào lời khai của chị D và anh Q thì thực tế cuộc sống vợ chồng của anh chị đã có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị D yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3] Về nuôi con chung: Giữa chị Võ Thị Ngọc D và anh Lê Văn Q có 02 con chung là cháu Lê Quang Kim K, sinh ngày 28/6/2009 và Lê Quang K1, sinh ngày 28/5/2003.

Cả chị D và anh Q đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Quang Kim K. Tuy nhiên, việc giao con cho chị D hay anh Q nuôi dưỡng còn phải xem xét đến khả năng, điều kiện kinh tế của các bên và quyền lợi về mọi mặt của

con chung chưa thành niên. Xét thấy, từ năm 2023 đến nay, chị D là người chăm lo kinh tế trong gia đình, anh Q không có công việc làm nên không có thu nhập, hơn nữa cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, việc giao cháu K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn sẽ bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của cháu và quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cháu Lê Quang K1 đã đủ tuổi trưởng thành, chị D và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Ngọc D không yêu cầu anh Lê Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của chị D nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị D và anh Q không yêu Tòa án giải quyết.

[6] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Võ Thị Ngọc D đối với anh Lê Văn Q.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Ngọc D phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc D về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với bị đơn anh Lê Văn Q.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc D được ly hôn với anh Lê Văn Q (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 006 quyển số I do Ủy ban nhân dân Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/01/2002).
    2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Lê Quang Kim K, sinh ngày 28/6/2009 cho chị Võ Thị Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, chị Võ Thị Ngọc D phải tạo điều kiện cho anh Lê Văn Q thăm nom con, không ai có quyền cản trở anh Lê Văn Q thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

  1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Võ Thị Ngọc D không yêu cầu anh Lê Văn Q cấp dưỡng nuôi con.
  2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Võ Thị Ngọc D và anh Lê Văn Q không yêu cầu giải quyết
  1. Về án phí dân sự Hôn nhân sơ thẩm: Chị Võ Thị Ngọc D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008251 ngày 07/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc D và bị đơn anh Lê Văn Q vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - CCTHADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Đương sự (02);
  • - Lưu: VP, HS (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Ngọc D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger