TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST |
|
Ngày: 19/6/2025 |
|
V/v “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Loan
- Ông Nguyễn Thanh Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Mỹ D – sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
Bị đơn: Ông Biện Thanh P – sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 21/02/2025 nguyên đơn bà Đặng Thị Mỹ D trình bày:
Bà và ông Biện Thanh P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N vào năm 2011. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do ông bà bất đồng về tính cách và quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình. Bà và ông P không còn chung sống với nhau đã hai năm nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà và ông P có 02 con chung tên là Biện Thiên B, sinh ngày 23/4/2013 và Biện Thiên Â, sinh ngày 05/10/2022. Bà yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông P không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Biện Thanh P đã được Tòa án triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải hợp lệ nhưng đều không có mặt. Do đó, không lấy được lời khai của ông P.
* Đại diện Viện kiểm sát thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, Bà Đặng Thị Mỹ D có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Biện Thanh P đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, bà D được ly hôn với ông P. Về con chung: Giao cháu Biện Thiên B, sinh ngày 23/4/2013 và Biện Thiên Â, sinh ngày 05/10/2022 cho bà D nuôi dưỡng. Bà D không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Bà D phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện về việc ly hôn đối với bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại thị xã N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Đặng Thị Mỹ D có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn. Ông Biện Thanh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn
2. Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Mỹ D và ông Biện Thanh P tự nguyện kết hôn tại UBND xã N, thị xã N vào ngày 05/9/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển 01/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của bà D, trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do ông bà bất đồng về tính cách và quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình. Bà và ông P không còn chung sống với nhau đã hai năm nay. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P. Ông P đã được Tòa án triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng đều không có mặt nên Tòa án không lấy được lời khai của ông P. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà D về việc ly hôn với ông P.
2.2 Về con chung: Bà D và ông P có có 02 con chung tên là Biện Thiên B, sinh ngày 23/4/2013 và Biện Thiên Â, sinh ngày 05/10/2022, bà D yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Tại bản tự khai ngày 21/02/2025, cháu Biện Thiên B đề nghị Tòa án cho cháu được ở với bà D nếu cha mẹ cháu ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận việc giao con chung cho bà D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và bà D không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà D, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về án phí: Bà D phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Đặng Thị Mỹ D được ly hôn với ông Biện Thanh P.
Về con chung: Giao con chung Biện Thiên B, sinh ngày 23/4/2013 và Biện Thiên Â, sinh ngày 05/10/2022 cho bà Đặng Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà D không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Quá trình nuôi dưỡng con chung, bà D, ông P có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Mỹ D và ông Biện Thanh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Đặng Thị Mỹ D phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án BLTU/23 số 0006602 ngày 07/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà D đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị Mỹ D và ông Biện Thanh P vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Hương |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Thị Loan Nguyễn Thanh Hưng | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Hương |
Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ly hôn bị đơn
