Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8-HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14-11-2025

“V/v ly hôn giữa chị Hằng - anh Thiểm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Tân; Ông Nguyễn Gia Khải.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8-Hưng Yên
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8-Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QĐ-HPT ngày 29/10/2025 giữa các đương sự:

  • -Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1987.
  • Nơi cư trú: Thôn K, xã T, tỉnh Phú Thọ
  • -Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982.
  • Nơi cư trú: Thôn P, xã N, tỉnh Hưng Yên
  • (Chị H có đơn xin xử án vắng mặt, vắng mặt anh T không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai, tại phiên tòa nguyên đơn là chị Đào Thị H trình bày: Chị H và anh T tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình, nay là xã N, tỉnh Hưng Yên vào ngày 15/3/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã T, tỉnh Phú Thọ và lao động tự do. Quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Từ ngày 5/2024 mâu thuẫn trầm trọng, anh T trở về quê tại xã N, tỉnh Hưng Yên sinh sống và sống ly thân cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị xin được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị H khai vợ chồng vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cần thiết cho anh T biết để đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng anh T vắng mặt không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của anh T và không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh T đều vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã xác minh:

- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1943, là bố đẻ anh T; anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 là anh trai anh T và ông Bùi Đình N là trưởng thôn Phục Lễ, xã N đều cung cấp hoàn cảnh điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh T như chị H trình bày. Hiện tại anh T đã trở về gia đình tại xã N, tỉnh Hưng Yên sinh sống, hai bên sống ly thân. Quan điểm của ông B, ông N và anh T1 đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn để giải quyết yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hưng Yên tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ cơ bản theo trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa là chấp hành chưa đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị H được ly hôn anh T; Về con chung: chị H và anh T không có con chung, vì vậy không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung: chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên không đặt ra giải quyết; chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn P, C, huyÖn Q, tỉnh Thái Bình. Nay là thôn P xã N, tỉnh Hưng Yên, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Đào Thị H và anh Nguyễn Văn T được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình, nay là xã N, tỉnh Hưng Yên vào ngày 15/3/2023 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cả hai sinh sống tại gia đình chị H và lao động tự do. Theo như chị H trình bày và Tòa án xác minh thu thập chứng cứ cho thấy trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 5/2024 mâu thuẫn trầm trọng, anh T trở về quê tại xã N, tỉnh Hưng Yên sinh sống và sống ly thân cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H làm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn. Còn đối với anh T, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ để anh T biết và đến Tòa án tham gia hòa giải, vợ chồng có cơ hội gặp gỡ trở về đoàn tụ, nhưng anh T vắng mặt. Qua xác minh với ông Nguyễn Văn B là bố đẻ anh T; anh Nguyễn Văn T1, là anh trai anh T và ông Bùi Đình N là trưởng thôn Phục Lễ, xã N đều xác nhận hiện anh T đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại gia đình ở thôn P, xã N, tỉnh Hưng Yên nhưng do anh T làm tự do, sáng đi làm tối mới trở về nhà và đã biết được việc chị H khởi kiện ly hôn, đã nhận được các giấy tờ của Tòa án gửi. Quan điểm của ông B, ông N và anh T1 đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân để giải quyết yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định của pháp luật, vì hai bên đã sống ly thân và không còn thương yêu nhau nữa. Đối với chị H quá trình tố tụng vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh T là có căn cứ.

[3] Về con chung: Chị H và anh T không có con chung.

[4] Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.

[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Chị H và anh T không có con chung.
  3. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000628 ngày 14/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8, tỉnh Hưng Yên thành tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND khu vực 8, tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng THADS khu vực 8, tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Nguyễn Du, tỉnh Hưng Yên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN MINH ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Đào Thị H và anh Nguyễn Văn T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger