TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12-12-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đoàn Văn Vui;
- Ông Nguyễn Thanh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 141/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Thùy D, sinh ngày 26/8/1987;
CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp K, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: anh Châu Văn T, sinh ngày 20/8/1989;
CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp K, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
(Chị D có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh T vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D trình bày:
Chị và anh Châu Văn T do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2009. Anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị nhiều lần tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Đến nay, chị xác định tình cảm không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về nuôi con chung: chị D và anh T có 01 con chung là Châu Thị Yến V, sinh ngày 15/8/2008. Hiện nay, cháu V đang sống với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V; chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Do bận công việc nên chị D yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và không có khiếu nại về sau.
Anh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long đề nghị:
Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 21, 28, 35, 36, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thùy D với anh Châu Văn T.
- Về con chung: chị Lê Thị Thùy D được quyền tiếp tục nuôi con chung Châu Thị Yến V, sinh ngày 15/8/2008; anh Châu Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Lê Thị Thùy D khởi kiện tại Toà án nhân dân Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Châu Văn T. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.
Nguyên đơn chị D có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt chị D, anh T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị D:
Chị D và anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2009 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long). Anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/11/2009. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, theo chị D, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ, cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Chị D xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Đối với anh T, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do cho thấy, anh T không còn tha thiết và không mong muốn tiếp tục, duy trì quan hệ hôn nhân với chị D. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị D và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung: chị D và anh T có 01 con chung là Châu Thị Yến V, sinh ngày 15/8/2008. Hiện nay, cháu V đang sống với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V; chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T vắng mặt không có lời trình bày nên Tòa án căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập được để giải quyết. Xét thấy, cháu V hiện nay đang sống với chị D, cuộc sống ổn định không nên thay đổi người nuôi con làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Đồng thời tại văn bản trình bày ý kiến ngày 11/8/2025 thì cháu V có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Vì vậy, cần giao cháu V cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng: chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết chị D có quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản chung: chị D trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: chị D trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy D xin ly hôn đối với anh Châu Văn T;
* Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị Thùy D với anh Châu Văn T.
* Về nuôi con chung: chị Lê Thị Thùy D được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 01 (một) người con chung là Châu Thị Yến V, sinh ngày 15/8/2008. Ghi nhận chị Lê Thị Thùy D không yêu cầu anh Châu Văn T cấp dưỡng nuôi cháu Châu Thị Yến V.
Anh Châu Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con; chị Lê Thị Thùy D có quyền yêu cầu anh Châu Văn T cấp dưỡng nuôi con.
* Về chia tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Về nợ chung: chị Lê Thị Thùy D xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Thị Thùy D không yêu cầu anh Châu Văn T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
2. Về án phí: chị Lê Thị Thùy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004960 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thuỳ D ly hôn Châu Văn T
