Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11/4/2025

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Ông Đặng Thiên Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 11/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 246/2024/TLST-HNGĐ về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 11/02/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Giáp Văn S, sinh năm 1993 (vắng mặt)

HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị G, sinh năm 1963 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Giáp Văn S được tự do tìm hiểu, việc kết hôn trên cơ sở tình cảm đôi bên. Anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn ngày 26/9/2018 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Đỉnh điểm là đến tháng 05/2024 chị về nhà ngoại ở cho đến nay. Từ đó vợ chồng xa cách, cắt đứt liên lạc, không còn quan tâm đến nhau nữa. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh S đã đi nước ngoài nên việc đoàn tụ là không thể. Chị đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang cho chị được ly hôn anh Giáp Văn S.

- Về con chung: Chị và anh Giáp Văn S có 02 con chung là cháu Giáp Gia H, sinh ngày 27/3/2019 và cháu Giáp Tuệ A, sinh ngày 29/9/2022. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con chung là cháu A vì cháu là con gái, cần sự chăm sóc của người mẹ và đề nghị giao cháu H cho anh S chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị M hiện nay đang đi làm công ty ở Bắc Ninh, thu nhập 9.000.000đồng/tháng, chị xác định chị hoàn toàn đủ khả năng để chăm sóc cháu A. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị M không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Giáp Văn S hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh S đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh S.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị G, sinh năm 1963, bà có ý kiến trình bày như sau:

Bà là mẹ đẻ của anh Giáp Văn S. Anh S và chị M kết hôn năm 2018. Sau khi kết hôn, chị M và anh S sống cùng gia đình bà. Trong thời gian chung sống với nhau, chị M và anh S cũng có mâu thuẫn và gia đình hai bên có hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị M đề nghị được ly hôn anh S thì bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Giáp Gia H, sinh ngày 27/03/2019 và cháu Giáp Tuệ A, sinh ngày 29/9/2022. Hai cháu vẫn đang sống cùng bà. Ly hôn chị M đề nghị được nuôi cháu A và giao cháu H cho anh S chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên hiện nay anh S đang đi làm ăn xa, không thường xuyên có mặt ở nhà nên bà đồng ý thay anh S chăm sóc cho cháu H đến khi anh về nước.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị M có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Giáp Văn S vắng mặt không có lý do. Bà Trần Thị G có đơn xin vắng mặt và đã gửi bản tự khai cho Toà án. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Giáp Văn S.

Về con chung: Giao cháu Giáp Tuệ A, sinh ngày 29/9/2022 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Giáp Gia H, sinh ngày 27/03/2019 cho anh Giáp Văn S nuôi dưỡng tuy nhiên tạm giao cho bà Trần Thị G chăm sóc, giáo dục đến khi anh S về nước hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh S, chị M có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị M có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với anh Giáp Văn S. Bị đơn anh Giáp Văn S có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang lao động tại nước ngoài. Căn cứ công văn số: 14468/QLXNC-P3 ngày 08/7/2024 của Cục Q thì anh S đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 15/11/2023, chưa có thông tin nhập cảnh. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn anh Giáp Văn S được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với mẹ đẻ của anh S là bà Trần Thị G xác định hiện anh S đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh S ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh S theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Giáp Văn S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2018 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh S. Xem xét đơn khởi kiện của chị M, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Anh S hiện nay đã đi nước ngoài, vợ chồng xa cách, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Giáp Văn S.

[4]. Về con chung: Cả 02 con chung là cháu Giáp Gia H, sinh ngày 27/3/2019 và cháu Giáp Tuệ A, sinh ngày 29/9/2022 hiện đều đang ở cùng bà nội. HĐXX xét thấy nuôi con chung vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cả bố và mẹ. Chị M có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu A là chính đáng. Anh S hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có mặt tại địa phương, không sống cùng 02 con chung nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho cả 02 con chung sẽ gặp nhiều hạn chế. Về điều kiện, hoàn cảnh của hai anh chị là như nhau nên cần giao mỗi người nuôi dưỡng, chăm sóc một con. Hơn nữa, cháu A là con gái, cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu A cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu H cho anh S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Trần Thị G chăm sóc đến khi anh S về nước. Về cấp dưỡng nuôi con chung, không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Các đương sự không đề nghị nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Giáp Văn S.
  2. Về con chung: Giao cháu Giáp Tuệ A, sinh ngày 29/9/2022 cho chị Nguyễn Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Giáp Gia H, sinh ngày 27/03/2019 cho anh Giáp Văn S nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Trần Thị G chăm sóc, giáo dục đến khi anh S về nước hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật
  3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008263 ngày 05/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • - Đương sự hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Đương sự cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ngô Văn Bê

Tô Văn Đức

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Đông Phú, huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị M ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với anh Giáp Văn S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger