Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09/6/2025

Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Trần Khoa
  2. Bà Lê Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích H - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1007/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị D – sinh năm 1986

Địa chỉ: H đường P, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Trần Cao V – sinh năm 1983

Địa chỉ: H đường P, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà Vũ Thị D và ông Trần Cao V đã chung sống với nhau trong 15 năm theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 55, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 20/8/2009. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông V có nhiều mối quan hệ ngoài luồng, ngày nào cũng đi đến 2 – 3 giờ sáng mới về, không quan tâm vợ con. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bà D yêu cầu được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà Vũ Thị D và ông Trần Cao V có 02 con chung là cháu Trần Vũ Lan A – sinh ngày 12/10/2009 và cháu Trần Hữu Tiến A1 – sinh ngày 13/3/2011. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Trần Cao V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Cao V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.

Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang kết luận:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Trần Vũ Lan A – sinh ngày 12/10/2009 và cháu Trần Hữu Tiến A1 – sinh ngày 13/3/2011 cho nguyên đơn trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Vũ Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Trần Cao V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà Vũ Thị D và ông Trần Cao V tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 55, quyển số 01/2009 ngày 20/8/2009. Hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.

Biên bản xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Vũ Thị D và ông Trần Cao V chính quyền địa phương không rõ. Tuy nhiên, qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân giữa bà Vũ Thị D và ông Trần Cao V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Cao V không đến Tòa án để tham gia hòa giải, thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí hoà giải, hàn gắn của bị đơn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung:

Bà Vũ Thị D và ông Trần Cao V có có 02 con chung là cháu Trần Vũ Lan A – sinh ngày 12/10/2009 và cháu Trần Hữu Tiến A1 – sinh ngày 13/3/2011. Bà D yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung. Mặt khác, cả 02 con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy nguyên đơn có đủ điều kiện để yêu thương con, chăm lo cho việc sinh hoạt, học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, việc giao 02 con chung cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Vũ Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: Bà Vũ Thị D chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

  • - Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị D được ly hôn ông Trần Cao V.
  2. Về con chung: Bà Vũ Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Trần Vũ Lan A – sinh ngày 12/10/2009 và cháu Trần Hữu Tiến A1 – sinh ngày 13/3/2011.

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Cao V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  2. Về án phí: Bà Vũ Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23, số: 0003206 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
  3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yc nđ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger