TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-6-2025 V/v Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Ông Phạm Phước Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 230/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Lâm Thị V, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Bị đơn: Lê Văn N, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 12/02/2025, Biên bản hòa giải ngày 07/5/2025, chị Lâm Thị V là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Sau khi tìm hiểu, chị V và anh N được gia đình hai bên đồng ý cho tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận kết hôn số 108/2013, quyền số 01/2013 cấp ngày 27 tháng 11 năm 2013.
Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì hôn nhân đã có nhiều thay đổi, vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn dẫn đến cự cãi với nhau. Thời gian đầu mâu thuẫn, cả hai cũng đã cố gắng dung hòa, tìm cách hòa giải để hàn gắn nhưng không được. Chị V và anh N đã ly thân hơn 01 năm, không còn liên quan nhau, tình cảm cũng đã không còn, không thể hàn gắn. Nhận thấy vợ chồng không còn hiểu nhau, không còn hòa thuận để chung sống hạnh phúc nên nay chị V yêu cầu ly hôn với anh N.
- Về nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Văn P, sinh ngày 07/3/2014 và Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 02/02/2020. Hiện nay, anh N đang nuôi dưỡng các con. Tại đơn khởi kiện, chị V yêu cầu được nuôi cháu Lê Thị Mỹ D. Chị V đồng ý để anh N nuôi dưỡng cháu Lê Văn P, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên hòa giải, chị V trình bày do hiện nay 02 con đang sống chung với anh N ổn định, chị V thì đi làm ăn xa nên không có điều kiện trực tiếp nuôi con. Do đó, nếu được chấp nhận yêu cầu ly hôn thì chị V đồng ý để anh N trực tiếp nuôi 02 con chung, chị V sẽ tự thỏa thuận với anh N về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị V và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là về ly hôn và nuôi con, địa chỉ của bị đơn Lê Văn N tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Anh N đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Chị V xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[3] Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Sau thời gian tìm hiểu thì chị V và anh N tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 108, ngày 21/11/2013. Hôn nhân giữa chị V và anh N là tự nguyện và hợp pháp, phù hợp quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo chị V trình bày thì sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì hôn nhân có nhiều thay đổi, vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn dẫn đến cự cãi với nhau. Thời gian đầu mâu thuẫn, cả hai cũng đã cố gắng dung hòa, tìm cách hòa giải để hàn gắn nhưng không được. Chị V và anh N đã ly thân hơn 01 năm, không còn liên quan nhau, tình cảm cũng đã không còn, không thể hàn gắn. Nhận thấy vợ chồng không còn hiểu nhau, không còn hòa thuận để chung sống hạnh phúc nên nay chị V yêu cầu ly hôn với anh N. Về phía anh N là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết nội dung vụ án nhưng không phản đối, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị V. Anh N cũng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa để vợ chồng có cơ hội hòa giải, hàn gắn tình cảm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị V và anh N là đã trầm trọng, mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V đối với anh N.
[4] Về nuôi con: Căn cứ vào lời trình bày của chị V và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định vợ chồng chị V và anh N có 02 con chung tên Lê Văn P, sinh ngày 07/3/2014 và Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 02/02/2020. Hiện nay, anh N đang nuôi dưỡng các con. Khi ly hôn, chị V đồng ý để anh N được tiếp tục nuôi 02 con chung, chị V sẽ tự thỏa thuận với anh N về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh N đang trực tiếp nuôi dưỡng các con ổn định, trong đó cháu P có nguyện vọng tiếp tục sống với cha. Anh N không có ý kiến về việc nuôi con, không có ý kiến về việc không đồng ý tiếp tục nuôi con. Do đó, việc chị V đồng ý để anh N được trực tiếp nuôi dưỡng các con sau khi ly hôn là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Trường hợp được tiếp tục nuôi con, chị V đề nghị được tự thỏa thuận với anh N về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp không thỏa thuận được thì anh N là người trực tiếp nuôi con có quyền khởi kiện vụ án khác về việc cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Chị V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 28, 35, 39, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 8, 9, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
1. Về hôn nhân: Chị Lâm Thị V được ly hôn với anh Lê Văn N.
2. Về nuôi con:
Anh Lê Văn N được trực tiếp nuôi 02 con chung Lê Văn P, sinh ngày 07/3/2014 và Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 02/02/2020. Chị Lâm Thị V tự thỏa thuận với anh Lê Văn N về việc cấp dưỡng nuôi, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lâm Thị V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Không có.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị V chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Lâm Thị V đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002178 ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
5. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Phương Thảo |
Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
