Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 03 - 2025

V/v:"tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Đăng
  • Ông Trần Xuân Thành
  • Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: không.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về "tranh chấp hôn nhân và gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 81/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Phan Thị T, sinh ngày 02/02/1995; nơi thường trú: thôn T, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: số B, ngõ C, đường A, đường Y, thành phố N, huyện N, Đài Loan; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: anh Phan Huy C, sinh ngày ngày 12/6/1990; nơi thường trú: xóm A, xã L (nay là xã B), huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: số A, Goejeong-ro 15beon-gil, S-gu, B, Hàn Quốc; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Cao Thị T1, sinh năm 1965; địa chỉ: khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn – chị Phan Thị T trình bày: chị và anh Phan Huy C kết hôn với nhau vào ngày 07/10/2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2019, anh C xuất cảnh sang Hàn Quốc. Năm 2020, chị T cũng xuất cảnh sang Đài Loan và vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống giữa hai người, khoảng cách địa lý xã xôi nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn anh Phan Huy C.

Về con chung: chị T, anh C có 01 con chung là Phan Thảo C1, sinh ngày 17/3/2017, hiện đang sống cùng bà nội là Cao Thị T1 tại khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Để đảm bảo sự ổn định cho cháu C1 sau khi ly hôn, chị T đề nghị Toà án giao con chung cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và nhờ mẹ đẻ anh C là bà Cao Thị T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng Phan Thảo C1 trong thời gian anh C ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay chị T đang sống tại Đài Loan, không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên vắng mặt chị T; chị T uỷ quyền cho anh Đào Đăng D, địa chỉ: phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, thay mặt chị nhận các văn bản tố tụng do Tòa án gửi và nộp các văn bản, tài liệu cho Tòa án.

Tại Bản tự khai (có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc), bị đơn – anh Phan Huy C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh Phan Huy C thống nhất về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày; đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

Về con chung: anh C, chị T có 01 con chung, hiện đang ở cùng mẹ đẻ anh C là bà Cao Thị T1 như chị T khai. Nếu ky hôn, anh C nhất trí nguyện vọng và đề nghị của chị T ở trên; đề nghị Tòa án giao con chung cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đề nghị tạm giao cháu Thảo C1 cho bà T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh C về nước.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh C đang ở nước ngoài, không thể có mặt để giải quyết việc ly hôn nên xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án. Anh uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị H, địa chỉ: xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, thay mặt anh nhận các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt.

Chị T xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án.

Tại đơn trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Cao Thị T1 trình bày:

Bà là mẹ đẻ anh Phan Huy C. Anh C và chị T có 01 người con là Phan Thảo C1, hiện đang sống cùng bà (T1) tại khối H, thị trấn T, tỉnh Nghệ An. Nếu anh C, chị T ly hôn, bà đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thảo C1 đến khi anh C về nước; không yêu cầu anh C, chị T trả tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng và hoàn trả chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thảo C1; đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án và uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị H, địa chỉ: xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, thay mặt bà nhận các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt.

Cháu Phan Thảo C1 trình bày: cháu là con của bố C và mẹ T. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với bố và muốn được bà nội là Cao Thị T1 tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian bố cháu ở nước ngoài.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: vụ án "tranh chấp hôn nhân và gia đình" giữa chị Phan Thị T và anh Phan Huy C, trong đó anh C có hộ khẩu thường trú tại: xóm A, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Chị T, anh C hiện nay đều đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ và chứng thực của Đ tại Hàn Quốc) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: vụ án không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị được vắng mặt tất cả các phiên làm việc, phiên họp, phiên xét xử tại Toà án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Phan Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Phan Thị T và anh Phan Huy C kết hôn với nhau vào ngày 07/10/2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, là hôn nhân hợp pháp. Năm 2019, anh C xuất cảnh sang Hàn Quốc. Năm 2020, chị T cũng xuất cảnh sang Đài Loan và vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không quan tâm chăm sóc nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh C đồng ý. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Phan Huy C theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao.

[4.2] Về con chung: chị T, anh C có 01 con chung là Phan Thảo C1, sinh ngày 17/3/2017, hiện đang sống cùng bà nội là Cao Thị T1 tại khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị T và anh C đều đề nghị Toà án giao con chung cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành và đề nghị Tòa án tạm giao Phan Thảo C1 cho bà T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh C ở nước ngoài. Bà T1 đồng ý và không yêu cầu giải quyết, trả chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C1.

Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con chưa thành niên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị T, anh C tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.

[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị T, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.

[5] Về án phí: chị T, anh C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 207; Điều 147,khoản 1 Điều 228, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Phan Huy C.

2. Về con chung: giao con chung là Phan Thảo C1, sinh ngày 17/3/2017 cho anh Phan Huy C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do anh C đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu Phan Thảo C1 cho bà Cao Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh C trở về Việt Nam.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.

Chị Phan Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phan Thảo C1: Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Án phí: chị Phan Thị T phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí (do anh Đào Đăng D nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013839 ngày 02/01/2025; anh Phan Huy C phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Đức Dũng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Ngọc Tiếp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Phan Huy C.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger