Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*****

Bản án số: 86/2025/HNG§-ST

Ngày: 19/02/2025

V/v xin ly hôn

Nhân danh

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

  • Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Chu Thị Tuyết
    2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
  • Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 431/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2024 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Thạch Mỹ H, sinh năm 1979 – có mặt
  • HKTT: SỐ H Ngõ A N, G, B, Hà Nội
  • Chỗ ở hiện nay: Số B H, L, Đ, Hà Nội
  • - Bị đơn: Ông Bùi Trung D, sinh năm 1974 – vắng mặt
  • HKTT: Số H Ngõ A N, phường G, quận B, Hà Nội
  • Cùng chỗ ở hiện nay: P302 Chung cư M phố Q, phường N, quận T, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Bùi Trung D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 01/06/2004 tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống bình thường. Khoảng chục năm trở lại đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đặc biệt do ông D thường xuyên uống rượu, về chửi bới vợ con, tra tấn tinh thần của bà và các con. Bà và gia đình hai bên khuyên nhủ nhiều nhưng ông D không thay đổi, vẫn chứng nào tật ấy, thường xuyên nhậu nhẹt, hành vợ hành con. Mặc dù sống chung một nhà nhưng vợ chồng ngủ riêng và ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng từ lâu không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Vì vậy bà đề nghị cho bà được ly hôn với ông Bùi Trung D.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung là Bùi Hoàng O (nữ), sinh ngày 30/11/2004 và Bùi Hoàng Y (nữ), sinh ngày 02/09/2011. Cháu O đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cháu muốn ở với ai là tuỳ theo nguyện vọng của cháu. Về cháu Y, bà có nguyện vọng sau khi ly hôn bà sẽ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Bản thân bà hiện đã đi thuê nhà ở riêng, làm công việc bán hàng ăn tại Chợ T B, thu nhập hàng tháng là 19.000.000 đồng/tháng nên bà đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con tốt. Bà H cung cấp cho Toà án hợp đồng thuê nhà và đơn trình bày cam đoan về việc làm, thu nhập.

Về tài sản: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong bản tự khai và biên bản hoà giải, bị đơn trình bày:

Ông và bà Thạch Mỹ H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 01/06/2004 tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc tới thời điểm hiện tại thì phát sinh mâu thuẫn (khi ông phát hiện ra bà H có người lạ nhắn tin tình cảm yêu đương). Nay bà H xin ly hôn, ông không đồng ý ly hôn, ông muốn các con có đầy đủ cả bố và mẹ.

Về con chung: Vợ chồng ông có 02 con chung là Bùi Hoàng O (nữ), sinh ngày 30/11/2004 và Bùi Hoàng Y (nữ), sinh ngày 02/09/2011. Cháu O đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Ông có nguyện vọng được nuôi cháu Y và không yêu cầu bà H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Tại biên bản hoà giải ông trình bày: Vợ chồng ông tự thoả thuận với nhau về tài sản và không đề nghị Toà án giải quyết. Tại bản tự khai ông trình bày: Vợ chồng ông tự thoả thuận về tài sản. Ông chỉ đồng ý ly hôn sau khi hai vợ chồng thoả thuận được với nhau về tài sản.

Khi bà H trình bày không đồng ý với quan điểm của ông, bà đã chịu đựng ông hơn 20 năm vì ông nhậu nhẹt, chơi bời cờ bạc, giày vò bà và các con nên bà cương quyết ly hôn, không đồng ý đoàn tụ, thì ông trình bày: nay vợ ông cương quyết ly hôn, ông đồng ý ly hôn và đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y. Tuy nhiên, sau khi trình bày ý kiến như trên, ông D xin phép ra ngoài và không quay trở lại để ký biên bản.

Sau đó ông D không đến Toà án làm việc và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì theo yêu cầu của Toà án.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của chị Bùi Hoàng O, sinh ngày 30/11/2004 (con chung của vợ chồng bà H và ông D). Chị O trình bày: Quá trình chung sống với bố mẹ, chị thấy bố mẹ không hạnh phúc. Bố mẹ thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, thậm chí chửi nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp, không có tiếng nói chung, đặc biệt là do bố chị hay uống rượu, ngày nào cũng uống rượu rồi chửi bới vợ và các con, ngoài ra bố chị còn chơi lô đề. Chị cảm thấy không khí gia đình vô cùng ngột ngạt, căng thẳng, khiến chị rất buồn chán và áp lực. Tình trạng này đã xảy ra từ rất lâu, kéo dài đến nay và ngày càng trầm trọng. Bố mẹ chị mặc dù sống chung một nhà nhưng ngủ riêng phòng. Mẹ chị ngủ cùng hai con, còn bố ngủ phòng khác. Bố mẹ sống ly thân như vậy đã nhiều năm nay.

Nay mẹ chị xin ly hôn, quan điểm của chị là bố mẹ có cuộc sống không hòa hợp, hạnh phúc thì nên ly hôn để giải phóng cho nhau, giải phóng cho cả gia đình đỡ phải sống trong không khí ngột ngạt, bế tắc. Chị đồng ý với ý kiến của mẹ, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho mẹ chị. Do bận việc cá nhân nên chị xin được vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa và tại phiên tòa.

Ngày 31/12/2024, bà H làm đơn với nội dung đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nữa vì mâu thuẫn của vợ chồng bà đã quá trầm trọng, kéo dài trong nhiều năm, đến nay không thể hàn gắn. Trong vụ án này, Toà án cũng đã cho vợ chồng thời gian để suy nghĩ lại và tổ chức buổi hoà giải để vợ chồng thảo luận, cho ý kiến về vấn đề ly hôn giữa vợ chồng, tuy nhiên ông D tỏ thái độ không hợp tác, bỏ đi giữa buổi làm việc. Vì vậy bà đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nữa, sớm đưa vụ án ra xét xử, giải quyết cho bà được ly hôn để còn ổn định cuộc sống.

Tại Giấy xác nhận tình trạng chung sống của vợ chồng, bà Đỗ Thị N (tổ trưởng tổ dân phố G, phường N, quận T, Hà Nội) cung cấp: Về mâu thuẫn vợ chồng bà H ông D: Do không đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn ngày một trầm trọng, không thể sống chung được với nhau.

Toà án có công văn hỏi ý kiến của Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T, được Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T trả lời: Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em.

Tại đơn trình bày nguyện vọng, cháu Bùi Hoàng Y có nguyện vọng muốn được ở cùng với mẹ.

Tại phiên tòa:

Tại phiên tòa lần 1 (ngày 23/01/2025) bà H có mặt, ông D vắng mặt không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bà H có mặt, ông D tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Bà Thạch Mỹ H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Bùi Trung D và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Hoàng Y, bà tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Thẩm phán, Thư ký) và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn tự ý bỏ về giữa buổi hoà giải là không tôn trọng Toà án và tại phiên toà, bị đơn vắng mặt hai lần không có lý do.

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn ông Bùi Trung D và giao con chung là cháu Bùi Hoàng Y cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản: Các bên không có yêu cầu nên Toà không xem xét. Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. Về tố tụng:

    Đối với sự vắng mặt của bị đơn, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần 1 không có lý do. Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

  2. Về nội dung:

    Về quan hệ hôn nhân:

    Bà Thạch Mỹ H và ông Bùi Trung D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/06/2004 tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên là hôn nhân hợp pháp.

    Căn cứ vào toàn diện lời khai của các bên và ý kiến của tổ dân phố thì xác định được: quá trình chung sống, vợ chồng bà H ông D có phát sinh nhiều mâu thuẫn, do lối sống không hoà hợp. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm và không còn tình cảm với nhau. Ông D không đồng ý ly hôn là để giàng buộc bà H thoả thuận với ông D về vấn đề tài sản.

    Như vậy, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

    Về con chung:

    Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Hoàng O (nữ), sinh ngày 30/11/2004 và Bùi Hoàng Y (nữ), sinh ngày 02/09/2011. Chị O đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Bà H và ông D đều đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y và không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Xét thấy: Bà H đã cung cấp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh điều kiện nuôi con của mình bao gồm: Hợp đồng thuê nhà và đơn trình bày cam đoan về việc làm, thu nhập hàng tháng là 19.000.000 đồng/tháng. Ông D không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho đề nghị nuôi con của mình, đồng thời bỏ đi giữa buổi hoà giải và vắng mặt tại phiên toà hai lần không có lý do, cho thấy ông D là người vô trách nhiệm và thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Bùi Hoàng Y cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con chung và phù hợp với nguyện vọng của con. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Về tài sản:

    Bà H, ông D không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa không xem xét.

    Về án phí:

    Bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Thạch Mỹ H đối với ông Bùi Trung D. Bà Thạch Mỹ H được ly hôn ông Bùi Trung D.

  2. Về con chung:

    Giao bà Thạch Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Hoàng Y (nữ), sinh ngày 02/09/2011, ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng tiền nuôi con chung, đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi các bên có sự thay đổi khác.

    Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản:

    Không xem xét

  4. Về án phí:

    Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ với 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp tại biên lai số 0036521 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, Hà Nội.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hồ Đắc Kiện,
  • huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HNG§-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 86/2025/HNG§-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger