|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/DS-PT
Ngày: 13 - 3 - 2025
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhung, ông Nguyễn Ngọc Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Yến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2024/TLPT-DS ngày 15/10/2024. về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 418/2024/QĐXX-PT ngày 12/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 397/2024/QĐ-PT ngày 30/12/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân Mặc, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn 3, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Chuyền; Địa chỉ: 03 Lê Duẩn, Phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- * Bị đơn: Bà Phạm Thị Kim Hồng, sinh năm 1963 và ông Trương Văn Tiến, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn 3, xã Hoà Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Lành; Địa chỉ: Thôn 3, xã Hoà Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Thủy; Địa chỉ: Thôn 3, xã Hoà Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột; Địa chỉ: 01 Lý Nam Đế, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thanh Vân; Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thanh (vắng mặt), chị Nguyễn Thị Hằng (có mặt), chị Nguyễn Thị Hiền (vắng mặt), chị Nguyễn Thị Xuân Diệu (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Thôn 3, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
- Chị Nguyễn Thị Hải (có mặt), chị Nguyễn Thị Oanh (có mặt). Cùng địa chỉ: Thôn 18, xã Hoà Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
- Bà Trần Thị Duyên; Địa chỉ: Buôn Păn Lăm, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Chị Trương Thị Kim Loan (có mặt); Địa chỉ: Thôn 3, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
- Anh Trương Văn Thắng (có mặt); Địa chỉ: Thôn 6, xã Hoà Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
- Chị Trương Thị Kim Phương (có mặt); Địa chỉ: Thôn 5, xã Hoà Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện và trình bày của nguyên đơn: Năm 1993, ông Nguyễn Xuân Mặc có mua một thửa đất của bà Nguyễn Thị Lành diện tích 880m², phần đất ông Mặc mua cắt ngang 1/3 căn nhà tranh nứa bà Lành đang ở, do chưa cần sử dụng đối với phần đất này nên ông Mặc để cho bà Lành sử dụng. Tại hồ sơ kê khai nguồn gốc đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Mặc khai đất có nguồn gốc do HTX Quyết Thắng cấp vì do bà Lành ở trên đất nhưng không có giấy tờ, và trên thực tế thì phần đất này là đất của HTX Quyết Thắng nên khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì kê khai là đất do HTX Quyết Thắng cấp. Ngày 31/7/1997 gia đình ông Mặc được Chủ tịch UBND huyện Cư Jút cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích đất trên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 485559, thửa đất số 465, tờ bản đồ 20, diện tích 880m².
Khoảng năm 2008, khi bà Lành chuyển nhượng phần đất còn lại của bà Lành cho bà Phạm Thị Kim Hồng và ông Trương Văn Tiến thì ông Mặc đã gặp bà Hồng và ông Tiến để xác định phần đất bà Lành chuyển nhượng có 1/3 căn nhà khoảng 155m² là đất của ông Mặc. Bà Hồng nói bà mua sửa lại căn nhà để cho con trai bà ở, do bà Hồng có mối quan hệ là em gái của bà Thủy vợ ông Mặc và khi đó gia đình ông Mặc cũng chưa có nhu cầu sử dụng phần đất này nên để cho vợ chồng bà Hồng mượn làm nhà cho cháu ở.
Năm 2023, ông Mặc có nhu cầu cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hệ thống bản đồ mới. Khi Sở Tài nguyên và môi trường xuống đo đạc cấp trích lục thì gia đình ông Tiến, bà Hồng không cho đo đạc phần đất gia đình ông Mặc cho mượn. Lúc này ông Mặc mới biết bà Hồng, ông Tiến đã âm thầm đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kê khai luôn phần diện tích mượn của gia đình ông Mặc và được UBND thành phố Buôn Ma Thuột cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 880592 thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77, diện tích 357,4m² cấp ngày 17/8/2023.
Sau khi biết bà Hồng, ông Tiến làm thủ tục cấp giấy chứng nhận phần diện tích đất mượn của ông Mặc, ông Mặc có gặp vợ chồng ông Tiến đề nghị trả đất nhưng vợ chồng ông Tiến không đồng ý. Vì vậy, ông Mặc làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc bà Phạm Thị Kim Hồng và ông Trương Văn Tiến trả lại cho ông Nguyễn Xuân Mặc phần diện tích đã mượn 147,1m². Tuyên hủy một phần giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số DI 880592 ngày 17/8/2023 thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77, diện tích 357,4m² do UBND Tp. Buôn Ma Thuột cấp cho bà Phạm Thị Kim Hồng, ông Trương Văn Tiến (phần diện tích khoảng 147,1m² trong tổng số 357,4m² của thửa đất).
* Bị đơn bà Phạm Thị Kim Hồng và ông Trương Văn Tiến thống nhất trình bày: Năm 1995, gia đình ông Trương Văn Tiến có mua của bà Trần Thị Lành 1 lô đất và ông Tiến đổ đất để nông đất vườn, đến năm 1997 thì ông Tiến làm nhà bằng gỗ lợp tôn. Năm 2001 bà Trần Thị Lành tiếp tục bán cho ông Tiến phần đất và nhà ván lợp ngói sát vách nhà ông Tiến, gia đình ông Tiến dùng căn nhà đó để làm nhà bếp và bán bún. Năm 2010 con trai ông Tiến lấy vợ nên ông Tiến để cho con ở tại phần nhà này, sau đó do căn nhà bị dột nát nên vợ chồng ông Tiến xây lại nhà cho con trai, chính ông Mặc là người thi công xây nhà cho gia đình ông Tiến.
Ngày 17/8/2023, vợ chồng ông Tiến đã được UBND thành phố Buôn Ma Thuột cấp GCNQSDĐ số DI 880592 ngày 17/8/2023, thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77, diện tích 357,4m², địa chỉ: xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (hiện đã được tách làm 2 thửa là 579 và 580). Gia đình ông Tiến quản lý sử dụng diện tích trên, không có tranh chấp với ai.
Trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi nguồn gốc đất do HTX Quyết Thắng cấp lý do là vì bà Lành được HTX cho ở trên đất mà không có giấy tờ gì, ông bà mua lại đất từ bà Lành nên ghi nguồn gốc đất là do HTX Quyết Thắng cấp, việc kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.
Ngày 24/11/2023, gia đình ông Tiến có chuyển nhượng cho bà Trần Thị Duyên thửa đất số 580, tờ bản đồ số 77, diện tích 124,8m² và bà Duyên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, phần diện tích đã chuyển nhượng cho bà Duyên không thuộc diện tích đất đang tranh chấp, còn lại thửa 579 thì gia đình ông Tiến vẫn quản lý, sử dụng ổn định. Khi thực hiện việc kê khai đất với chính quyền địa phương thì gia đình ông Tiến mới biết đất của gia đình ông Tiến bị chồng lấn. Chính quyền địa phương đã tiến hành hòa giải tranh chấp và hai bên thống nhất quản lý theo diện tích đất đang thực tế sử dụng, ông Mặc đồng ý ký nhưng bà Thủy không đồng ý.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Tiến, bà Hồng không đồng ý vì phần diện tích đất nguyên đơn tranh chấp được gia đình ông Tiến mua của bà Lành, khi mua đã có ranh giới rõ ràng, gia đình ông Tiến, bà Hồng quản lý sử dụng ổn định và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định. Việc ông Mặc cho rằng phần đất tranh chấp do ông Tiến, bà Hồng mượn của gia đình ông Mặc là không đúng.
* Trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Phạm Thị Thủy trình bày: Bà Thủy là vợ của ông Nguyễn Xuân Mặc, bà đồng ý với ý kiến của ông Mặc và người đại diện theo ủy quyền. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Kim Hồng, ông Trương Văn Tiến trả lại cho gia đình ông, bà phần diện tích đất đã mượn khoảng 155m². Tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 880592 do UBND Tp. Buôn Ma Thuột cấp ngày 17/8/2023 (khoảng 155m² trong tổng số 357,4m²) đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77, địa chỉ thửa đất tại xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mang tên bà Phạm Thị Kim Hồng, ông Trương Văn Tiến.
- - Bà Nguyễn Thị Lành trình bày: Năm 1995, tôi có bán cho ông Tiến một lô đất với giá 1 chỉ vàng, trong lô đất của tôi tôi bán cho ông Tiến một bên, ông Mặc một bên, nhà tôi ở giữa. Đến năm 2001 tôi bán luôn phần đất mà tôi đang ở cho ông Tiến. Tại thời điểm bán đất cho ông Mặc thì ranh giới là bờ đá tạm, sau đó vài năm thì ông Mặc có xây tường rào ngăn cách 2 lô đất, đúng ranh giới như hiện nay mà hai bên đang sử dụng. Không có việc tôi mượn đất của ông Mặc để ở nhờ.
- - Chị Nguyễn Thị Thanh, chị Nguyễn Thị Oanh, chị Nguyễn Thị Hằng, chị Nguyễn Thị Hiền, chị Nguyễn Thị Xuân Diệu, chị Nguyễn Thị Hải trình bày: Các chị có mối quan hệ là con của ông Nguyễn Xuân Mặc và bà Phạm Thị Thủy. Thời điểm gia đình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 465, tờ bản đồ số 20 thì các chị còn nhỏ, không có công sức đóng góp gì và cũng không biết gì về quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Chị Trương Thị Kim Loan, anh Trương Văn Thắng, chị Trương Thị Kim Phương trình bày: Các anh chị có mối quan hệ là con của ông Trương Văn Tiến và bà Phạm Thị Kim Hồng, thửa đất số 579, tờ bản đồ số 77 tại xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk là tài sản của ông Tiến, bà Hồng, các anh chị không có công sức đóng góp gì, nay xảy ra tranh chấp thì các anh chị không có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Duyên trình bày: Ngày 24/11/2023, bà Duyên có nhận chuyển nhượng của hộ ông Trương Văn Tiến, bà Phạm Thị Kim Hồng diện tích đất 124,8m², thuộc thửa đất số 580, tờ bản đồ số 77, tọa lạc tại xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột (là 1 phần diện tích của thửa đất 129), sau đó bà Duyên đã được cấp Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất số DM 236632 ngày 20/12/2023 theo quy định pháp luật. Phần diện tích đất mà bà Duyên nhận chuyển nhượng không liên quan đến diện tích đất mà ông Mặc và ông Tiến đang tranh chấp nên bà Duyên không liên quan gì đến vụ án, không có yêu cầu gì và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng hợp lệ nhưng đều vắng mặt.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS-ST, ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định:
- Căn cứ Điều 4, Điều 5, Điều 6, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 14, Điều 163, Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai.
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc.
Về việc: Buộc bà Phạm Thị Kim Hồng và ông Trương Văn Tiến trả lại cho ông Nguyễn Xuân Mặc phần diện tích đất 147,1m² thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77 (nay thuộc thửa đất số 579, tờ bản đồ số 11).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 168/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án. Người kháng cáo nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung đơn kháng cáo. Bị đơn bà Phan Thị Kim Hồng và ông Trương Văn Tiến không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân Mặc. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc kháng cáo trong hạn luật định, thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Xuân Mặc, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ kỹ thuật thửa đất thì hiện nay ông Nguyễn Xuân Mặc, bà Phạm Thị Thủy là người quản lý, sử dụng nhà, đất thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 77, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 880m2, diện tích thực tế đang sử dụng theo kết quả đo đạc là 694,8 m² (trong đó có 56,8m² đất thuộc quy hoạch giao thông); Ông Trương Văn Tiến và bà Phạm Thị Kim Hồng là người quản lý, sử dụng nhà, đất thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77, diện tích 357,4 m² diện tích theo đo đạc thực tế là 449,4m² (trong đó có 86,7m² thuộc quy hoạch giao thông).
Mặc dù nguyên đơn sử dụng diện tích đất ít hơn so với diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thì hai hộ sử dụng đất ổn định, đúng hiện trạng, ranh giới lồng ghép theo bản đồ cũ của thửa 465, tờ bản đồ số 20 (của nguyên đơn) có sự chồng lấn là do sai số trong quá trình đo đạc bằng phương pháp thủ công, ranh giới giữa hai hộ là ranh giới cứng, đã tồn tại từ lâu.
Ông Nguyễn Xuân Mặc khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn Tiến, bà Phạm Thị Kim Hồng trả lại phần diện tích đất 147,1m² thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77 (nay thuộc thửa đất số 579, tờ bản đồ số 11) với lý do phần đất này ông Mặc mua của bà Nguyễn Thị Lành nhưng chưa có nhu cầu sử dụng nên cho bà Lành và sau đó là cho ông Tiến, bà Hồng ở nhờ. Lời khai này không được ông Tiến, bà Hồng cũng như bà Lành thừa nhận. Ông Mặc không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Quá trình giải quyết vụ án bà Lành và ông Mặc đều xác định phần tường rào ngăn cách giữa hai thửa đất hiện nay là do chính ông Mặc xây dựng sau khi mua đất của bà Lành.
Nguyên đơn cho rằng giữa hai bên đã xảy ra tranh chấp từ năm 2016 nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tiến bà Hồng là trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ đã thu thập được thì tháng 12/2023 UBND xã Hòa Khánh mới tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai dựa trên đơn đề nghị hòa giải của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc, ông Mặc không cung cấp được tài liệu nào chứng minh các bên có tranh chấp từ trước, nên không có căn cứ cho rằng các bên có tranh chấp đất từ năm 2016 như ông Mặc trình bày.
Việc Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 880592 ngày 17/8/2023 đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77 tại xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cho bà Phạm Thị Kim Hồng, ông Trương Văn Tiến được thực hiện theo trình tự thủ tục luật định.
Do đó, bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Mặc là có căn cứ, kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc là không có cơ sở để chấp nhận mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[2] Về án phí: Ông Nguyễn Xuân Mặc là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS-ST, ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ Điều 4, Điều 5, Điều 6, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 14, Điều 163, Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Mặc về việc buộc bà Phạm Thị Kim Hồng và ông Trương Văn Tiến trả lại cho ông Nguyễn Xuân Mặc phần diện tích đất 147,1m² thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 77 (nay thuộc thửa đất số 579, tờ bản đồ số 11).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân Mặc được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 86/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 86/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
