|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 86/2025/DS - ST Ngày: 20 – 6 – 2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lục Kim Thanh
- Bà Nguyễn Kim Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên
toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 639/2024/TLST - DS ngày 24 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2025/QĐXXST- DS ngày 27 tháng 5 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 84/2025/QÐST – DS ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N; địa chỉ: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện:
- Ông Nguyễn Khánh H - chức vụ: Trưởng Phòng khách hàng thuộc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B.
- Ông Bùi Duy T - chức vụ: Phó Trưởng Phòng khách hàng thuộc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B.
Cùng địa chỉ liên hệ: Lô D-4-TT, đường N, KCN M, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/10/2024).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1988; HKTT: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: Khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
(Ông T có mặt; ông H, ông D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng đề ngày 09 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (gọi tắt là Ngân hàng N) – do ông Bùi Duy T đại diện trình bày: Ngân hàng N – Chi nhánh B đã giải quyết cho ông Phạm Văn D vay vốn theo hình thức mở thẻ tín dụng với hạn mức thẻ 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023, số tài khoản thẻ tín dụng Visa Signature VS08400744964, cụ thể: Hạn mức thẻ: 150.000.000 đồng; mục đích vay: Tiêu dùng; thời hạn duy trì hạn mức: 60 tháng kể từ ngày phát hành thẻ; thời gian thu hồi nợ: Ngày 15 hàng tháng; dư nợ thẻ tính đến ngày 03/10/2024 là 172.295.405 đồng; biện pháp bảo đảm: Tín chấp. Ông Phạm Văn D phát sinh nợ quá hạn từ ngày 15/02/2024. Tính đến ngày 03/10/2024, tổng dư nợ thẻ tín dụng (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn) là: 172.295.405 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm lẻ năm đồng). Trong đó, nợ gốc: 149.999.227 đồng; lãi: 16.643.608 đồng; phí phạt: 5.652.570 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp đồng thời có văn bản yêu cầu ông Phạm Văn D thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông D không thực hiện. Nay ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Phạm Văn D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 03/10/2024 là 172.295.405 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm lẻ năm đồng). Ông Phạm Văn D còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng, kể từ ngày tiếp theo của ngày 03/10/2024 cho đến ngày ông D trả hết nợ gốc, lãi và phí. Trường hợp ông D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông D để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Phạm Văn D vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp ý kiến, không có đơn đề nghị xử vắng mặt.
Tại Biên bản xác minh ngày 19/11/2024, thực hiện tại Công an phường M thể hiện: Tại thời điểm xác minh, ông D không còn thông tin tạm trú, cư trú tại khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Tại Phiếu xác minh số 01/PXM – DS ngày 31/3/2025, Công an xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cung cấp: Trên hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia và dân cư, tàng thư hộ khẩu công dân, ông Phạm Văn D có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Thực tế ông D đã đi vắng tại địa phương từ 05 – 07 năm, không rõ nơi cư trú, không rõ hình thức liên hệ.
Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông D có nghĩa vụ thanh toán nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 204.259.343 đồng. Trong đó, nợ gốc 149.999.227 đồng; lãi 33.472.129 đồng; phí phạt 20.787.987 đồng, đồng thời còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng, kể từ ngày tiếp theo của ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày ông D trả hết nợ gốc, lãi và phí.
Đối với yêu cầu thể hiện trong đơn khởi kiện: “Trường hợp ông D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông D để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật”, Ngân hàng không tiếp tục yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết đối với yêu cầu này.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của nguyên đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết tranh chấp: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Ngân hàng Thương mại cổ phần N cấp thẻ tín dụng cho ông Phạm Văn D với hạn mức 150.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, do đó cần xác định đây là vụ án tranh chấp về dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tranh chấp giữa Ngân hàng N và ông Phạm Văn D phát sinh từ quan hệ hợp đồng; nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát là nơi hợp đồng được thực hiện là Tòa án giải quyết vụ án. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ông D có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhưng không còn sinh sống tại địa phương từ 05 đến 07 năm, không rõ nơi cư trú; tại thời điểm xác lập giao dịch, ông D có thông tin nơi ở tại khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; tại thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết, ông D không còn thông tin tạm trú và sinh sống tại đây; ông D bỏ đi khỏi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết nơi cư trú mới. Nay Ngân hàng khởi kiện, Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, giải quyết vắng mặt ông D theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Xét Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023:
Theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023 của ông Phạm Văn D, Ngân hàng đã cấp hạn mức thẻ tín dụng số tiền 150.000.000 đồng cho ông D. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 15/02/2024 nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông D tất toán toàn bộ khoản vay còn thiếu là có căn cứ. Tính đến ngày 20/6/2025, ông D còn nợ của Ngân hàng số tiền 204.259.343 đồng, trong đó, nợ gốc 149.999.227 đồng; lãi 33.472.129 đồng; phí phạt 20.787.987 đồng. Do đó, cần buộc ông D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền này.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (21/6/2025) ông D còn phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023 ký kết giữa Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B và ông Phạm Văn D, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 10.213.000 đồng (204.259.343 đồng x 5%). Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 10.213.000 đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Nguyên đơn đã tạm ứng án phí nên cần hoàn lại cho nguyên đơn.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.841.363 đồng. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu khoản chi phí này. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn lại cho nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;
Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng.
Áp dụng khoản 1 Điều 117, khoản 4 Điều 422; Điều 428; Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Phạm Văn D.
Ông Phạm Văn D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là 204.259.343 đồng. Trong đó, nợ gốc 149.999.227 đồng; lãi 33.472.129 đồng; phí phạt 20.787.987 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (21/6/2025), ông Phạm Văn D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023 ký kết giữa Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B và ông Phạm Văn D cho đến khi thanh toán xong nợ.
- Về nghĩa vụ chịu án phí: Ông Phạm Văn D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 10.213.000 đồng (mười triệu hai trăm mười ba nghìn đồng).
Hoàn lại Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 4.307.385đồng (bốn triệu ba trăm lẻ bảy nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005632 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn D có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 3.841.363 đồng (ba triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng).
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần N được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được cấp tống đạt theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (Văn bản hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |
Bản án số 86/2025/DS - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 86/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP N khởi kiện ông Phạm Văn D về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
