Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/DS-PT

Ngày 17/3/2025

V/v “Tranh chấp QSDĐ và tài sản gắn liền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Ông Trần Bá Kha

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 273/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2025/QĐ-PT ngày 3 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1955, bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1948, ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1945, ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 và ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn C: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1955 - theo giấy ủy quyền ngày 03/6/2018 (có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968 và ông Trần Văn Đ, sinh năm 1968; Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  4. Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Văn Đ: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968 - theo hợp đồng ủy quyền ngày 17/10/2022 (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang; Địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
    2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Minh T1 - chức vụ: Chủ tịch.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh K - chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện H, theo giấy ủy quyền số 32/GUQ-UBND ngày 31/7/2024 (có đơn xin vắng mặt);

    3. Ủy ban nhân dân xã M, huyện H; Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
    4. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - chức vụ: Chủ tịch (có đơn xin vắng mặt);

    5. Ông Bùi Trung C1 và bà Trần Thị X; Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
    6. Ông Nguyễn Văn H1; Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt);

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông Nguyễn Hữu Đ1 khai mở, sử dụng. Sau khi ông Đ1 chết thì phần này được giao cho cha mẹ các ông bà là Nguyễn Văn P và Nguyễn Thị C2 quản lý, sử dụng. Năm 1993, Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mẹ của các ông bà có xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hết cả khu đất bao gồm khu đất nghĩa địa (phần đất tranh chấp) nhưng Ủy ban nhân dân xã M không đồng ý mà chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ruộng nằm liền kề khu đất nghĩa địa và có nói rằng đất nghĩa địa thì cứ để đó ai muốn chôn thì chôn. Năm 2006 bà C2 chết, khoảng năm 2014 - 2015 vợ chồng bà Nguyễn Thị D, ông Trần Văn Đ có hỏi mượn diện tích đất bờ ruộng trồng khổ qua. Nhưng ông Đ, bà D không trồng khổ qua mà trồng các loại cây lâu năm. Đến năm 2018 khi phát hiện thì các ông bà có làm đơn thưa tới Ban lãnh đạo ấp, rồi đến xã và sau đó chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất để yêu cầu giải quyết, buộc vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị D phải trả cho các ông bà diện tích 226m² đất tọa lạc tại tổ H, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang mà ông Đ, bà D đã bao chiếm.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên.

* Tại bản tự khai, đơn phản tố ngày 24/10/2022 bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ trình bày:

Năm 1989 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Bùi Trung C1 và bà Trần Thị X, phần đất có chiều ngang 13.2m, chiều dài từ mé Quốc lộ H đến giáp đất Nguyễn Văn L (đất ruộng mà bà C2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), đất tọa lạc tại tổ H, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; với giá chuyển nhượng là 01 (một) chỉ 24kara, đất có tứ cận: Phía mặt tiền giáp Quốc lộ H, hậu giáp ông Nguyễn Văn L1, một bên giáp ông Nguyễn Văn Đ2, bên còn lại giáp ông Nguyễn Hũu N. Việc sang nhượng đất giữa vợ chồng ông bà với vợ chồng ông C1, bà X thì hai bên có làm giấy tay mua bán với nhau (giấy mua bán đã bị thất lạc nên không cung cấp được Tòa án). Phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi ông bà đã trả đủ tiền mua bán đất thì ông C1, bà X cũng đã giao đất cho ông bà sử dụng, ông bà tiến hành cất nhà ở và trồng một số cây ăn trái, sử dụng ổn định từ năm 1989 cho đến năm 2018 thì các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H là con của bà Nguyễn Thị C2 vào tranh chấp nên hai bên phát sinh tranh chấp và vụ việc được ủy ban nhân dân xã M mời các bên tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Nay ông bà làm đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần đất mà ông bà nhận chuyển nhượng của ông Bùi Trung C1, bà Trần Thị X có chiều ngang mặt lộ 13,2m, hậu ngang 17,50m; chiều dài mé Quốc lộ H đến giáp đất Nguyễn Văn L, diện tích 492.73m² đất tọa lạc tại tổ H, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cho ông bà sử dụng; đồng thời các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H không được cản trở việc sử dụng đất của ông bà và kiến nghị phòng TNMT huyện Hòn Đất lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu Tòa án công nhận phần đất mà ông bà nhận chuyển nhượng của ông Bùi Trung C1, bà Trần Thị X cho ông bà sử dụng để ông bà làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời yêu cầu các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H không được cản trở việc sử dụng đất nêu trên của ông bà.

* Tại bản tự khai và đơn xác nhận nguồn gốc đất ông Bùi Trung C1, bà Trần Thị X trình bày:

Vào năm 1989 ông bà có bán đất cho vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ diện tích đất có chiều ngang mặt lộ 13,2m, hậu ngang 17,50m; chiều dài mé Quốc lộ H đến giáp đất Nguyễn Văn L với giá 01 chỉ 24kara, đất tọa lạc tại tổ H, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Việc mua bán hai bên có làm giấy tay mua bán và ông bà đã giao đất cho bà D, ông Đ sử dụng; ông Đ, bà D sử dụng đất để cất nhà ở, trồng cây ăn trái từ năm 1989 cho đến nay. Việc mua bán giữa ông bà với vợ chồng bà D, ông Đ đã thực hiện xong nên ông bà không có yêu cầu trong vụ án này.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/8/2024 ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Ông Nguyễn Văn H1 khai rằng trên phần đất tranh chấp giữa các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H với bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ có 01 ngôi mộ của cha ông được chôn cất ở đây, ngôi mộ được đấp bằng đất. Việc di dời ông sẽ tự thỏa thuận nên ông không có yêu cầu gì.

* Tình tiết đương sự đã thống nhất: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của TAND huyện Hòn Đất ngày 16/01/2023 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 01-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của

Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông bà Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ phải trả lại diện tích 226m² đất tọa lạc tại ấp T, xã, M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ.
    1. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ quản lý, sử dụng diện tích 168,1m² đất (4,1m² thửa đất số 03 và diện tích 164m² thửa đất số 05 theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023) nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ. Khi nào Nhà nước có thông báo hoặc quyết định thu hồi thì bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ phải giao trả lại.
    2. Công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế là 235,8m² (thửa số 02 và 03 theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023) đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cho bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ quản lý, sử dụng. Khi nào bà D, ông Đ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai thì bà D, ông Đ có quyền làm thủ tục kê khai đăng ký đến các cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận QSD đất theo đúng quy định của pháp luật.
    3. (hiện trạng theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất và tờ trích đo địa chính số TĐ 01-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H).

    4. Buộc ông bà Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H không được có hành vi cản trở bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế là 235,8m² (thửa số 02 và 03 theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023) giáp phần đất còn lại của bà D và ông Đ, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  3. Diện tích ngôi mộ, cây trồng và căn nhà trên đất: Không xét.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13 tháng 10 năm 2024, các nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn H, có đơn kháng cáo sửa bản án sơ thẩm với nội dung:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Giữ nguyên hiện trạng diện tích đất 226m² cho các nguyên đơn được toàn quyền quản lý và sử dụng. Vì đất này của cha mẹ các nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Bị đơn bà Nguyễn Thị D, ông Trần Văn Đ không đồng ý với kháng cáo của các nguyên đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự không tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Nội dung kháng cáo của các nguyên đơn không có căn cứ xem xét. Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 01 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo của đương sự thực hiện đúng quy định pháp luật.

[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Trung C1, bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn H1, đại diện Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện H và đại diện UBND xã M có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, tài liệu chứng cứ do các bên đương sự giao nộp và Tòa án thu thập nội dung tranh chấp Theo đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị D phải trả lại diện tích đất 226m².

Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Nguồn gốc đất theo nguyên đơn trình bày là do ông nội của nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu Đ1 khai mở, sử dụng. Sau khi ông Đ1 chết thì phần này được giao cho cha mẹ nguyên đơn là Nguyễn Văn P và Nguyễn Thị C2 quản lý, sử dụng. Năm 1993, Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà C2 có xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả khu đất mộ (phần đất tranh chấp) nhưng xã không đồng ý mà chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ruộng liền kề (vì phần đất này trước đây là đất nghĩa địa) và có nói rằng đất nghĩa địa thì cứ để đó ai muốn chôn thì chôn. Phía nguyên đơn xác định diện tích tranh chấp nguyên đơn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là đất nghĩa địa.

Phía bị đơn cho rằng nguồn gốc đất đang tranh chấp là do bị đơn mua lại từ vợ chồng ông Bùi Trung C1 và bà Nguyễn Thị X1 từ năm 1989, phần đất có chiều ngang 13.2m, chiều dài từ mé Quốc lộ H đến giáp đất Nguyễn Văn L, diện tích đất có tứ cận: Phía mặt tiền giáp Quốc lộ H, hậu giáp ông Nguyễn Văn L1, một bên giáp ông Đ2, bên còn lại giáp ông Nguyễn Hữu N1. Sau khi chuyển nhượng thì bị đơn tiến hành cất nhà ở và trồng một số cây ăn trái, sử dụng ổn định từ năm 1989 cho đến nay.

Về quá trình sử dụng đất:

Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp là của gia đình nguyên đơn quản lý sử dụng từ trước năm 1993 đến nay. Nhưng nguyên đơn không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất này là của nguyên đơn canh tác sản xuất trên diện tích đất tranh chấp liên tục từ trước đến nay.

Quá trình sử dụng đất của bị đơn được diễn ra trong một thời gian rất dài từ năm 1989 cho đến năm 2018 không tranh chấp.

Theo quy định tại khoản 01 Điều 2 Luật đất đai năm 1993 thì: “ người sử dụng đất ổn định được UBND xã phường, thị trấn xác nhận thì được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Tại công văn phúc đáp số số 489/UBND-TNMT ngày 30/5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện H và công văn số 54/UBND-CV ngày 10/9/2024 Ủy ban nhân dân xã M thể hiện:

Đối với thửa đất số 03 có diện tích 4,1m², thửa đất số 05 có điện tích 164m² theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang thể hiện đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ là do nhà nước quản lý. Căn cứ điểm b, điểm c khoản 4 Điều 56 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013 quy định thì diện tích 4,1m² thuộc thửa số 03 và diện tích 164m² thuộc thửa số 05, theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023 thể hiện đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ hiện tại chưa đủ điều kiện để được nhà nước công nhận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do cả 02 diện tích đất này đang do bà D, ông Đ quản lý, sử dụng. Vì vậy, HĐXX sơ thẩm tiếp tục giao cho ông Đ, bà D quản lý, sử dụng. Khi nào Nhà nước có thông báo hoặc quyết định thu hồi thì bà D và ông Đ phải giao trả lại có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh diện tích đất 226m² là của gia đình nguyên đơn nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn buộc bị đơn trả diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới để chứng minh việc kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, nguyên đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất là không có cơ sở để chấp nhận.

Vì vậy, sau khi thảo thuận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, không chấp nhận nội dung kháng cáo của các nguyên đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng; Tuy nhiên, các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C là người cao tuổi và có đơn xin giảm án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Còn ông Nguyễn Văn H phải nộp tiền án phí theo quy định.

Hoàn trả lại cho ông Trần Văn Đ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0001288 ngày 03/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo của các nguyên đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, nên các nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Các nguyên đơn được miễn án phí phúc thẩm do người cao tuổi.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản:

10.170.000đồng theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0016325 ngày 24/6/2019; số 00000879 ngày 11/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và số 00000003 ngày 29/2/2024 của Công ty TNHH MTV B. Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì nguyên đơn phải chịu, do yêu cầu của bị đơn được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí đo đạc và định giá này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 11, Điều 158, 160, 161, 166 BLDS năm 2015;

Áp dụng khoản 5 Điều 166, 170, điểm b khoản 2 Điều 203 của Luật Đất đai 2013;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 133/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông bà Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ phải trả lại diện tích 226m² đất tọa lạc tại ấp T, xã, M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ.
    1. Bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 168,1m² đất (4,1m² thửa đất số 03 và diện tích 164m² thửa đất số 05 theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023) nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ. Khi nào Nhà nước có thông báo hoặc quyết định thu hồi thì bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ phải giao trả lại.
    2. Công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế là 235,8m² (thửa số 02 và 03 theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023) đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cho bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ quản lý, sử dụng. Khi nào bà D, ông Đ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai thì bà D, ông Đ có quyền làm thủ tục kê khai đăng ký đến các cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận QSD đất theo đúng quy định của pháp luật.
    3. (hiện trạng theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất và tờ trích đo địa chính số TĐ 01-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H).

    4. Buộc ông bà Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H chấm dứt hành vi cản trở bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn Đ sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế là 235,8m² (thửa số 02 và 03 theo tờ trích đo địa chính số TĐĐ 01-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 16/01/2023) giáp phần đất còn lại của bà D và ông Đ, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  3. Diện tích ngôi mộ, cây trồng và căn nhà trên đất: Không xét.
  4. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
    2. Các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn C được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà các ông bà đã nộp là 1.200.000đồng theo biên lai thu số 0006879, 0006880, 0006882 và 0006883 ngày 18/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

      Ông Nguyễn Văn H phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 300.000đồng nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0006881 ngày ngày 18/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

      Hoàn trả lại cho ông Trần Văn Đ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0008214 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

    3. Án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn ônng Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H được miễn án phí thuộc trường hợp người cao tuổi có đơn xin miễn.
  5. Về chi phí đo đạc, định giá 10.170.000đồng (Mười triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng). Buộc ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H phải chịu. Các ông bà đã nộp được 7.106.000đồng còn lại 3.063.000 đồng các ông bà phải trả lại cho ông Đ, bà D (do ông Đ, bà D đã tạm ứng trước).
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Hòn Đất;
  • - THA dân sự huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 86/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết, buộc vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị D phải trả cho các ông bà diện tích 226m2 đất tọa lạc tại tổ H, ấp T, xã M, huyện H, tinh Kiên Giang mà ông Đ, bà D đã bao chiếm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger