1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HSST Ngày: 06-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo. | |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Võ Trương Tam . |
| Ông Đặng Văn Vững. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/TLST - HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quốc T, sinh ngày: 28/12/2003.
Nơi thường trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tấn D và bà Nguyễn Thị Mộng L; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án - tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 140/QĐ-CSĐT, ngày 11/10/2018, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố bị can về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự và Quyết định số 03/QĐ-CSĐT, ngày 31/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C quyết định đình chỉ điều tra bị can theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị Mộng L, sinh năm: 1978 (có mặt).
Cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Người làm chứng:
2
- Huỳnh Minh T1, sinh ngày 23/8/2006 (vắng mặt).
Cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. - Phạm Huỳnh P, sinh năm: 2004 (vắng mặt)
Cư trú: Thôn D, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. - Nguyễn Thị Tuyết O, sinh năm: 2001 (vắng mặt).
Cư trú: ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài nên từ tháng 10/2023, Lê Quốc T nảy sinh ý định mua chất thảo mộc khô được tẩm ướp ma túy có tên thường gọi là Cỏ Mỹ về chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại kiếm lời. Hình thức mua bán, T sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo và điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax đăng nhập vào tài khoản Facebook của T tên “Hoàng Bảo C” rồi vào các nhóm “Cỏ Mỹ Thành phố H”, Cỏ M” và “Cỏ Mỹ L - Thành phố Hồ Chí Minh” để lại số điện thoại liên lạc của T là 0797.462.xxx trên nhóm. Sau đó, người bán ma túy sẽ chủ động liên lạc với T để hỏi số lượng cần mua, giá, cách thức, địa điểm giao hàng. Sau khi mua được ma túy, T chia thành nhiều túi nhỏ và dùng tài khoản Facebook “Hoàng Bảo C” và “Dương Khả H” để đăng tải các hình ảnh quảng cáo Cỏ Mỹ và thông tin đặt hàng. Đồng thời, T tạo tài khoản shop giao hàng có tên “Hoàng Bảo Tổng/S22485906” thông qua Chi nhánh 3 - Công ty cổ phần G (sau gọi tắt là Công ty giao hàng) có địa chỉ tại khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An để phục vụ cho việc giao ma túy, phí giao hàng từ 30.000 đồng đến 35.000 đồng tùy vào khối lượng gói hàng. Việc mua bán ma túy của T được thực hiện qua phương thức thanh toán COD, tức sau khi người mua đặt ma túy, T sẽ tạo vận đơn, đóng gói ma túy vào hộp giấy rồi trực tiếp đến bưu cục gửi hàng, khi người mua nhận hàng và kiểm tra hàng thì mới trả tiền hàng và phí giao hàng cho bưu tá. Đối với khách hàng mới, để đảm bảo cho việc nhận hàng, T yêu cầu người mua đặt cọc một khoản tiền nhất định thông qua hình thức chuyển khoản qua số tài khoản 28122003397979 của Ngân hàng Q do bà Nguyễn Thị Mộng L - mẹ ruột T đứng tên tài khoản. Ngoài ra, để che giấu việc mua bán trái phép chất ma túy, khi tạo đơn hàng và đóng gói, T để tên sản phẩm bên ngoài gói hàng là “T”.
Ngày 15/01/2024 T dùng tài khoản Facebook “Hoàng Bảo C” liên lạc với Facebook tên “Huynh Tai” để mua ma túy dạng thảo mộc khô màu vàng (Tobaco, ký hiệu chữ T) và Cỏ M xanh (ký hiệu chữ X) với số tiền 1.160.000 đồng. Cùng ngày, T đến khu vực Bến xe quận H, địa bàn Quận H, Tp. nhận ma túy và trả tiền cho một
3
đối tượng nam. Sau khi nhận ma túy, T đem về nhà ở ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Long An, phân thành 23 (hai mươi ba) túi nhỏ và bán lại loại Cỏ Mỹ xanh và T2 có cùng giá với nhau 100.000 đồng/túi. Từ ngày 15/01/2024 đến ngày 20/01/2024, T đã nhận bán ma túy cho 10 đối tượng và tạo 10 đơn hàng tại Công ty giao hàng, trong đó có 09 đơn hàng, T đã đóng gói và giao cho Công ty giao hàng, còn 01 đơn hàng chưa đóng gói và giao hàng, cụ thể:
Ngày 15/01/2024 T nhận bán ma túy cho 02 đối tượng và tạo 02 đơn hàng tại hệ thống Giao hàng tiết kiệm:
- Hoàng Văn L1, số điện thoại: 0876.354.xxx, địa chỉ: Thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước đặt của T 01 gói ma túy với số tiền 875.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng, người này đã chuyển khoản đặt cọc 430.000 đồng cho T qua số tài khoản Ngân hàng Q;
- Nguyễn Tuấn H1, số điện thoại: 0947.758.xxx, địa chỉ: Số A, đường B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đặt của T 01 gói ma túy với số tiền 160.000 đồng, phí vận chuyển 27.000 đồng, người này đã chuyển khoản đặt cọc 50.000 đồng cho T qua số tài khoản 6360.492.887 Ngân hàng Đ.
Ngày 16/01/2024 T bán 01 gói ma túy cho đối tượng “Long Phú”, số điện thoại: 0389.143.xxx, địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa với số tiền 500.000 đồng, phí vận chuyển 37.000 đồng (không nhận tiền cọc).
Cả ba đơn hàng này đã được T đóng gói gửi cho Công ty giao hàng và đã được vận chuyển đến các kho trung chuyển nhưng bị phát hiện hàng cấm nên đã bị tiêu hủy tại kho.
Ngày 17/01/2024 T nhận bán ma túy cho 02 đối tượng và tạo 02 đơn hàng tại hệ thống Giao hàng tiết kiệm:
- Huỳnh Minh T1, sinh ngày: 23/8/2006, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An đặt của T 01 gói ma túy với số tiền 140.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng, T1 đã chuyển khoản đặt cọc 60.000 đồng cho T qua số tài khoản Ngân hàng Q;
- Đối tượng “Thuong Pham”, số điện thoại: 0563.308.xxx, địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi đặt của T 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng (không nhận tiền cọc).
Hai đơn hàng này đã được T đóng gói và gửi đến Công ty giao hàng để vận chuyển.
Ngày 18/01/2024 T nhận bán 01 gói ma túy cho đối tượng “Hoàng Anh”, số điện thoại: 0848.273.xxx, địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang với số tiền
4
300.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng (không nhận tiền cọc). Đơn hàng này đã được T gửi vận đơn đến hệ thống Giao hàng tiết kiệm nhưng đã bị Công ty hủy đơn, không đồng ý nhận hàng.
Ngày 19/01/2024 T nhận bán ma túy cho 04 đối tượng và tạo 04 đơn hàng tại hệ thống Giao hàng tiết kiệm:
- Phạm Huỳnh P, sinh ngày: 01/7/2004, nơi cư trú: Thôn D, xã N, Tp ., tỉnh Quảng Ngãi đặt của T 01 gói ma túy với số tiền 950.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng, P đã chuyển khoản đặt cọc 450.000 đồng cho T qua số tài khoản 1019488733 Ngân hàng T3;
- Đối tượng “vu khang”, số điện thoại: 0942.767.xxx, địa chỉ: ấp K, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau đặt của T 01 gói ma túy với số tiền 300.000 đồng, phí vận chuyển 35.000 đồng (không nhận tiền cọc);
- Đối tượng “Hoàng A”, số điện thoại: 0848.273.xxx, địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục đặt của T 02 gói ma túy với số tiền 250.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng (không nhận tiền cọc).
Ba đơn hàng này đã được T đóng gói và gửi đến Công ty giao hàng để vận chuyển.
- Đối tượng “Đức Tiến”, số điện thoại: 0898.114.xxx, địa chỉ: Khu V, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ đặt của T 01 gói ma túy Cỏ Mỹ với số tiền 200.000 đồng, phí vận chuyển 30.000 đồng (không nhận tiền cọc). Đơn hàng này, T chưa gửi đến Công ty giao hàng.
Ngày 20/01/2024, sau khi kiểm tra 05 (năm) hộp hàng mà T giao gửi cho Huỳnh Minh T1, Phạm Huỳnh P, “vu khang", "Thuong Pham”, “Hoàng A”, chị Nguyễn Thị Tuyết O là nhân viên Công ty giao hàng phát hiện là hàng cấm nên trình báo Công an thị trấn C (năm) hộp giấy chứa 07 (bảy) gói nhựa có rãnh khép, chứa các sợi thảo mộc màu xanh, màu vàng, được ký hiệu “Gói 1” để niêm phong gửi giám định. Qua truy xét, Cơ quan công an mời Lê Quốc T về làm việc. Tại Cơ quan công an, T đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp 16 (mười sáu) gói nylon bên trong chứa ma túy dạng thảo mộc khô màu xanh và màu vàng, do T tàng trữ nhằm mục đích mua bán, được ký hiệu “Gói 2” để niêm phong gửi giám định.
Kết luận giám định số: 1349/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Tp . – Bộ C1, kết luận:
+ Gói 1: Thảo mộc khô được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng:
5
Thảo mộc khô màu vàng: 74,86 gam.
Thảo mộc khô màu xanh: 12,63 gam.
+ Gói 2: Thảo mộc khô được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng:
Thảo mộc khô màu vàng: 61,17 gam.
Thảo mộc khô màu xanh: 27,85 gam.
Hiện nay, Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . không có mẫu chuẩn định lượng MDMB-4en-PINACA. Do vậy, Phân viện không tiến hành giám định hàm lượng MDMB-4en-PINACA theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Không hoàn lại đối tượng gửi giám định: mẫu vật đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tiến hành sao kê tài khoản 28122003397979 Ngân hàng Q liên kết với tài khoản “Hoàng Bảo Tổng/S22485906” của T tại Công ty G, xác định: số tiền mà những người mua ma túy đã chuyển khoản đặt cọc cho T trong khoản thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 20/01/2024 là 990.000 đồng, đồng thời, chưa có đơn hàng nào vận chuyển thành công đến người nhận nên xác định số tiền thu lợi bất chính của Lê Quốc T là 990.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 85/CT-VKSCG ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố Lê Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Quốc T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: thẻ sim điện thoại di động số 0797.462.xxx của bị cáo do sử dụng để liên lạc và đăng nhập mạng xã hội thực hiện hành vi phạm tội và 05 (năm) hộp giấy hình chữ nhật, loại hộp carton.
Đề nghị tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng và 01 (một) diện thoại di động hiệu Oppo, màu
6
xám của bị cáo do sử dụng để liên lạc và đăng nhập mạng xã hội thực hiện hành vi phạm tội.
Đề nghị, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 990.000 đồng (chín trăm chín mươi ngàn đồng) là tiền bán ma túy do bà Nguyễn Thị Mộng L (mẹ bị cáo giao nộp).
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Quốc T khai nhận: Do muốn có tiền tiêu xài nên vào tháng 10/2023, Bị cáo T nảy sinh ý định sử dụng mạng xã hội Facebook để mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 15/01/2024, qua mạng xã hội bị cáo T đã liên hệ và mua ma túy dạng thảo mộc khô màu vàng (Tobaco, ký hiệu chữ T) và Cỏ M xanh (ký hiệu chữ X) với số tiền 1.160.000 đồng của một đối tượng nam (không rõ nhân thân) ở khu vực Bến xe quận H, địa bàn Quận H, Tp Sau khi mua ma túy, từ ngày 15/01/2024 đến ngày 20/01/2024, bị cáo T đã nhận yêu cầu và 10 (mười) lần bán ma túy cho Huỳnh Minh T1, Phạm Huỳnh P và các đối tượng chưa rõ lai lịch và tạo 10 vận đơn tại Công ty giao hàng để vận chuyển ma túy dưới hình thức giao hàng có thu hộ, cụ thể: ngày 15/01/2024, ngày 16/01/2024 và ngày 18/01/2024, bị cáo T đã 04 (bốn) lần bán ma túy cho tài khoản Facebook “Hoàng Văn L1”, “Nguyễn Tuấn H1”, “Long Phú” và “Hoàng A”, các đơn hàng này đã được đóng gói gửi đi; ngày 19/01/2024, bị cáo T đóng gói 05 (năm) hộp giấy chứa 07 (bảy) gói nylon có rãnh khép, bên trong là các sợi thảo mộc màu xanh, màu vàng và gửi đến Công ty giao hàng, để chuyển đến Huỳnh Minh T1, Phạm Huỳnh P và tài khoản Facebook “vu khang”, “Thuong pham”, “Hoàng A”. Riêng đối với đơn hàng do đối tượng “Đ” đặt mua của bị cáo T vào ngày 19/01/2024, bị cáo T đã lên vận đơn nhưng chưa đóng gói, giao hàng. Đến ngày 20/01/2024, Công ty giao hàng phát hiện 05 hộp hàng do bị
7
cáo gửi là hàng cấm, nên chị Nguyễn Thị Tuyết O là nhân viên công ty đã trình báo Cơ quan công an. Qua truy xét, Cơ quan công an triệu tập T đến làm việc. Tại đây, T đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp 16 (mười sáu) gói nylon bên trong là các sợi thảo mộc khô màu xanh và màu vàng, do T tàng trữ nhằm mục đích mua bán. Theo Kết luận giám định số: 1349/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Tp . – Bộ C1, kết luận: 07 (bảy) gói nhựa có rãnh khép, được ký hiệu “Gói 1” (các gói bị cáo đóng thành 05 hộp đã gửi công ty để chuyển cho người mua) bên trong là các sợi thảo mộc khô màu xanh và màu vàng, có khối lượng 87,49 gam là ma túy loại MDMB-4en-PINACA và 16 (mười sáu) gói nylon, được ký hiệu “Gói 2” (các gói bị cáo tự nguyện giao nộp) bên trong là các sợi thảo mộc khô màu xanh và màu vàng, có khối lượng 89,02 gam là ma túy loại MDMB-4en-PINACA. Căn cứ theo Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, xác định: MDMB-4en-PINACA là chất ma túy, thuộc N (số thứ tự 241 Danh mục IIB Các chất ma túy được sử dụng hạn chế trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền). Do đó hành vi trên của bị cáo T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Ngoài ra Kết luận giám định số: 1349/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Tp . – Bộ C1, còn kết luận: Phân viện Khoa học hình sự không có mẫu chuẩn định lượng MDMB-4en-PINACA. Do vậy, Phân viện không tiến hành giám định hàm lượng MDMB-4en-PINACA theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra. Do đó không có cơ sở xem xét đến các tình tiết định khung tăng nặng quy định về khối lượng ma túy dùng để mua bán đối với bị cáo. Đối với 16 (mười sáu) gói nylon bên trong là các sợi thảo mộc khô màu xanh và màu vàng, chứa 89,02 gam ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, do bị cáo giao nộp, đây là số ma túy bị cáo chia nhỏ nhằm mục đích mua bán nên không xem xét xử lý bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[4] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như: mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép . . . chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
8
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tang vật là ma túy liên quan đến hành vi phạm tội và tác động gia đình nộp số tiền thu lợi bất chính, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về nhân thân của bị cáo: theo Quyết định số 140/QĐ-CSĐT, ngày 11/10/2018, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố bị can đối với T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự và Quyết định số 03/QĐ-CSĐT, ngày 31/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với T theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[8] Đối với Công ty giao hàng, qua xác minh, từ ngày 15/01/2024 đến ngày 20/01/2024, tại Chi nhánh S - thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, nhân viên đã nhận 10 giao dịch gửi hàng là ma túy dạng Cỏ Mỹ từ bị cáo T. Đối với 08 đơn hàng do bị cáo gửi, qua rà soát, nhân viên công ty phát hiện có dấu hiệu hàng cấm nên tiêu hủy 03 gói hàng, giữ lại 05 gói hàng và trình báo cơ quan công an, đồng thời, tích cực hợp tác làm việc phục vụ điều tra, do đó, không xem xét đến hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Đối với đối tượng nam, theo bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bến xe Q, địa bàn Quận H, Tp., Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành xác minh nhưng không tìm thấy đối tượng nên có Công văn số 382/CV-ĐTTH, ngày 24/9/2024 thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Tp . để tiếp tục xác minh, làm rõ. Đối với bà Nguyễn Thị Mộng L – là chủ tài khoản 28122003397979 Ngân hàng Q liên kết với tài khoản “Hoàng Bảo Tổng/S22485906" của bị cáo T tại Công ty giao hàng, bà L không biết T sử dụng căn cước công dân của bà để đăng ký tài khoản ngân hàng, cũng như bà không hưởng lợi từ việc T mua bán trái phép chất ma túy và việc bị cáo sử dụng nhà của bà L để cất giấu và phân chia ma túy để bán, bà L không biết nên không xem xét vai trò đồng phạm đối với bà L. Đối với các đối tượng “Hoàng Văn L1”, “Nguyễn Tuấn H1”, “Long Phú”, “vu khang”, "Thuong pham” và “Hoàng A”, không rõ lai lịch đã đặt mua ma túy của bị cáo T từ ngày 15/01/2024 đến ngày 19/01/2024, Cơ quan công an đã tiến hành xác minh tại địa phương dựa trên thông tin người nhận hàng nhưng không có kết quả nên không có căn cứ xử lý. Đối với số tiền 6.640.000 đồng mà Công ty giao hàng đã hoàn tiền
9
thu hộ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 20/01/2024 vào tài khoản ngân hàng Q của bà L, T khai đây là các đơn hàng Thái mua bán quần áo cũ và cây cảnh mà có được, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ thu hồi.
[9] Về tang vật thu giữ: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý tang vật thu giữ như sau:
[9.1] Đối với: thẻ sim điện thoại di động số 0797.462.xxx của bị cáo do sử dụng để liên lạc và đăng nhập mạng xã hội thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 05 (năm) hộp giấy hình chữ nhật, loại hộp carton dùng đựng ma túy để giao cho người mua, xét thấy không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
[9.2] Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng và 01 (một) diện thoại di động hiệu Oppo, màu xám của bị cáo do sử dụng để liên lạc và đăng nhập mạng xã hội thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, những người đặt mua ma túy đã chuyển khoản cho bị cáo số tiền 990.000 đồng (chín trăm chín mươi ngàn đồng), đây là tiền thu lợi bất chính từ bán ma túy, nên buộc bị cáo phải nộp lại, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Trong quá trình tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử thì ngày 28/10/2024 bà Nguyễn Thị Mộng L là mẹ bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 990.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc theo biên lai thu tiền số 0005005.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Quốc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/5/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (06/11/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: thẻ sim điện thoại di động số 0797.462.xxx và 05 (năm) hộp giấy hình chữ nhật, loại hộp carton.
10
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xám (tất cả đã qua sử dụng).
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 59/QĐ-VKSCG, ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 990.000 đồng (chín trăm chín mươi ngàn đồng) do bà Nguyễn Thị Mộng L nộp theo Biên lai thu tiền số 0005005, ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 86/2024/HSST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 86/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
